Phải Chăng Thánh Kinh Cựu Ước là hoàn toàn lời Chúa ?
| Author: JB Trường Sơn | Posted on: 2010-04-10 |
Việc trích các đoạn từ Cựu ước hoặc Tân ước để dẩn chứng trong phần lý luận dưới đây không nhất thiết ngụ ý rằng những đoạn ấy là chân lý bất di dịch. Những đoạn được trích ra chỉ có mục đích là để chứng minh có sự đồng nhất hoặc mâu thuẩn giữa lý luận của con người và của Mạc Khải bởi Thần Linh mà thôi, bởi lẽ người viết không tin rằng Cựu Ước và Tân Ước là hoàn toàn lời của Thiên Chúa mà nghĩ rằng người xưa đã lầm lẫn lời của Thiên Chúa với những lời tầm thường, phi nhân nghĩa, phát xuất từ những nguồn gốc ngoài Thiên Chúa, hoặc đã chen lẩn lời lẽ phàm tục của con người tự ý diển đạt một cách chủ quan mà thôi.
Ðáng ra những người viết Thánh Kinh đều có thể viết trúng và chân thật về Thiên Chúa vì mỗi con người được tạo nên với "Khả năng hiểu biết nguồn gốc của mình" (tức về Ðấng Tạo Hóa đã tạo dựng nên mình), và khả năng này được di truyền ở trong bản năng (chứa đựng trong genes), nhưng vì mắc vướng tội lỗi mà phần lớn khả năng này đã bị hủy diệt trong nảo bộ của con người, do đó họ không còn đủ sáng suốt để nhận ra được đâu là Thiên Chúa đấng Tạo Hóa của mình, vì vậy cách diển đạt của họ không phải bao giờ cũng trúng. Vậy ai là người có thể nói đúng về Thiên Chúa? Theo luận lý căn cứ vào Thánh Kinh thì chỉ có một người, đó là Ðức Giêsu, đấng tinh tuyền không vướng tội lỗi, vì Ngài được thụ thai trực tiếp bởi thần linh của Thiên Chúa, còn bao nhiêu kẻ khác đều mang trong huyết thống sự di truyền khuyết tật của tổ phụ Adam, đầy khuynh hướng lỗi lầm .
Người viết tuyệt đối tin vào Ðức Giêsu và những lời dạy dổ của Ngài, nhưng cũng đặt lên nghi vấn là liệu các tông đồ của Ngài có đủ khả năng thần thánh để kể lại và giải thích một cách hoàn toàn đúng đắn trung thực những việc Chúa Giêsu đã làm hay không, hay là họ vẫn dùng cách diển đạt phàm tục tầm thường để mô tã chuyện thần thánh?
Chẳng hạn hai câu này trong Thánh Kinh Tân Ước sẽ làm cho chúng ta suy nghĩ ra sao về tính trung thực của tác giả :
- (Mt 27:50-53) Đức Giê-su lại kêu một tiếng lớn, rồi trút linh hồn. Ngay lúc đó, bức màn trướng trong Đền Thờ xé ra làm hai từ trên xuống dưới. Đất rung đá vỡ Mồ mả bật tung, và xác của nhiều vị thánh đã an nghỉ được trỗi dậy. Sau khi Chúa trỗi dậy, các ngài ra khỏi mồ, vào thành thánh, và hiện ra với nhiều người..
| Thánh Gioan Tông Đồ, tác giả Phúc Âm Gioan và sách Khải Huyền |
Một câu khác trong Phúc Âm Gioan quả quyết rằng:
- ...Còn có nhiều điều khác Đức Giê-su đã làm. Nếu viết lại từng điều một, thì tôi thiết nghĩ: cả thế giới cũng không đủ chỗ chứa các sách viết ra (Gioan 21:25)
Tuy nhiều đến vô tận như thế nhưng thử hỏi ông đã viết được bao nhiêu ? Ôi ! thật là rất ít : Chỉ vỏn vẹn có 1 Phúc âm Gioan, 1 sách Khải Huyền cùng 3 lá thư gởi các tín hữu. Tổng cọng chỉ được khoảng 60 trang giấy cở 8 x10 ½. Phải chăng đây là một câu nói có tính cách khoa trương và hàm hồ? Tại sao Gioan lại không viết nhiều hơn để những gì ông viết ít nhất có thể chứa đầy một căn nhà thay vì chỉ vỏn vẹn bỏ vào trong một chiếc túi áo mà vẫn còn lỏng lẻo ?
Phải chăng ông bị chứng mất trí nhớ để rồi quên đi 99,9999 % những gì chính mắt mình thấy và chính tai mình nghe ? Vẫn biết rằng vào thời buổi của Gioan, viết lách là một việc khó khăn, nhưng nếu là "kể chuyện" về những điều có thật đã xảy ra thì thiết nghĩ chẳng có khó khăn gì vì, "có gì viết đó", đâu phải mệt nảo vò đầu bóp trán để nặn ra những tư tưởng mới ! Thánh Gioan không viết được nhiều là vì ông đã "hết ý", không còn gì để viết thêm ! Có nghĩa là việc Chúa làm mà ông đã thấy và biết được chỉ có hạn, và nếu suy diển ra thì cũng không nhiều như ông đã phóng đại.
Còn nữa, một phép lạ phi thường đầu tiên mà Chúa Giêsu đã làm khi bắt đầu đi giảng đạo là phép lạ biến nước thành rượu tại làng Cana, thế mà chỉ một mình Gioan, một kẻ hậu sinh (người viết Phúc Âm cuối cùng) mới biết để ghi lại trong Phúc Âm của Ông (Jn 2:1-11) trong khi các thánh sữ gia khác trước ông mấy chục năm đã không biết để mà ghi, thật là một điều khó hiểu.
Thật đáng tiếc là các tông đồ của Chúa Giêsu đã không lưu tâm để nhớ và tường thuật chi tiết về cuộc sống của Ngài và những việc Ngài làm, nhưng khi họ viết thì lại muốn thêu dệt thêm, và vì không có đủ cơ sở nên phải chọn lối hàm hồ, khiến chúng ta nghĩ rằng có thể có những việc phóng đại hoặc thất thiệt trong các Phúc Âm do các tông đồ của Chúa viết lại sau khi Ngài đã về trời. Sở dỉ lương tâm của họ không xao xuyến khi phóng đại hoặc thêu dệt (nếu có) là vì họ biết họ đang ca tụng Ðấng họ yêu thương, dù có ca ngợi quá đáng đi nữa thì cũng không mắc tội mà lại có thể được trọng thưởng nữa. Có đứa con nào mà không khen ngợi cha mẹ của mình một cách quá đáng đầy tưởng tượng ?
Ðối với Bộ Thánh Kinh Tân Ước mà còn có lắm thiếu sót như vậy thì thử hỏi những chuyện từ thuở tạo thiên lập địa thì làm sao các người viết Cựu Ước lại có thể kể lại trung thực được, nhất là những chuyện thuộc về cỏi tâm linh!
Nếu nghĩ rằng thêu dệt và ca ngợi quá đáng một đấng mình yêu thương là vô hại thì đó là điều thiển cận; hành động không tôn trọng sự thật và để cho sự sai lầm lưu truyền lâu dài cho mai sau là hành vi bất lương, thiếu trách nhiệm với lịch sữ. Vì vậy, tuy hành động thêu dệt vì tình thương có thể châm chước trên mặt tình cảm, nhưng về mặt lý trí và lịch sữ thì đó là điều phải chê trách, không thể bao che và khoan dung được.
Sự sai trái của Thánh Kinh đã khiến cho nhân loại phải chịu những tai họa khủng khiếp và làm ngu muội hàng trăm thế hệ con người. Vì vậy cần phải tu chỉnh lại những sai lầm càng sớm càng tốt để chấm dứt sự u mê và những hậu quả khó lường của nó. Tuy nói vậy nhưng cho mãi đến nay, chưa có ai trong giới hữu trách của Giáo Hội có can đảm nói lên sự thật của Thánh Kinh và của chính Giáo Hội. Trái lại nếu có người nào vì thiện tâm dám nói lên thì họ dùng đủ mọi cách để bịt miệng lại hoặc là chưởi bới để phủ đầu. Thật đáng buồn thay !
Cựu Ước khởi đầu bằng tập Sáng-Thế-Ký của Môisen. Có phải lời Môisen mô tả về sự tạo dựng vũ trụ là lời Chúa hay là do suy luận khiếm khuyết và độc đoán của chính ông ? Môisen chỉ là con người có khả năng giới hạn. Chính Ðức Giêsu là Con Thiên Chúa mà cũng có khả năng giới hạn khi mang lấy thể xác người phàm vì Ngài đã xác nhận là Ngài không biết ngày giờ của tận thế (Mat-thêu 24:36) và nếu chưa tập trung tư tưởng và cầu nguyện thì Ngài cũng không biết trước được những chuyện thông thường như chuyện gặp cây sung (vả) giữa đường tìm hái trái để ăn mà không ngờ rằng nó không có trái (Mat-thêu 21:19)
Nhưng Ðức Giêsu là đấng chân thật, Ngài không giải thích bậy những điều Ngài không biết, chẳng hạn khi các tông đồ hỏi Ngài về người mù bẩm sinh gặp tại hồ Siloam rằng có phải sự mù lòa của y là do tội của y hay tội của cha mẹ y thì Ngài chỉ trả lời là : "Không phải anh ta, cũng chẳng phải cha mẹ anh ta đã phạm tội. Nhưng sở dĩ như thế là để thiên hạ nhìn thấy công trình của Thiên Chúa được tỏ hiện nơi anh (Gioan 9:3).
Đây là một lối trả lời gián tiếp cho thấy Chúa Giêsu không khẳng định được hoặc không muốn tiết lộ thiên cơ, và cũng là câu trả lời cho những ai thắc mắc tại sao Thiên Chúa có lúc ra tay làm phép lạ cứu chửa con người và có lúc lại không làm .
Nhưng Môisen thì lại khác, ông ta đã giải thích sai lầm điều ông không biết. Môisen là một lãnh tụ tôn giáo, ông đã nhiều lần được thiên sứ của Thiên Chúa tiếp xúc và truyền lịnh, ông ta cũng được các ngài hướng dẫn trong tâm tư, nhưng bởi trí khôn giới hạn và bản chất tội lỗi của loài người nên ông không thể hiểu biết mọi chuyện, mà lắm lúc chỉ dùng sự suy luận riêng tư và giác quan của mình mà diển đạt thôi.
Thiết nghĩ Môisen đã bao lần ra ngồi bên bờ biển hoặc đứng trên triền núi cao nhìn về biển cả, suy tư và nghĩ ngợi về trời đất muôn vật. Ông biết rằng tất cả đều phải được tạo dựng, nhưng tạo dựng như thế nào? Làm sao giải thích màu xanh của nền trời cùng màu xanh của nước biển? Làm sao giải thích lượng nước vỉ đại từ trời đổ xuống mỗi lần trời mưa gió lũ lụt? Ban ngày đỉnh trời và mặt biển cùng có màu xanh, ban đêm thì chúng lại cùng mang màu đen tối giống nhau, ông liền nghĩ rằng nền trời chắc cũng chỉ là nước, khoảng không gian ở trên đầu mà người ta gọi là bầu trời trong đó có mặt trời mặt trăng cùng các ngôi sao chắc là một khoảng trống nằm giữa hai lớp nước. Theo ông thì vủ trụ này, trước khi chưa có ánh sáng, là nguyên một khối nước thẳm sâu (watery deep) và hồn thiêng của Thiên Chúa bay là là qua lại trong đó....(Sáng Thế Ký 1:2)
Rồi Thiên Chúa tách rời khối nước này làm hai : một ở trên và một ở dưới. Khối nước phía trên là đỉnh - tiếp đến là khoảng trống trung gian được gọi là Trời trong đó Ngài đặt mặt trời mặt trăng và các tinh tú - và dưới hết là khối nước thứ hai còn lại được gọi là biển ở đó Chúa cho đất mọc lên (Sáng Thế Ký 1:6-8)
![]() |
Figure 1: Chỉ vì màu trời xanh như nước và nước từ trời rơi xuống khi mưa mà nảy sinh quan niệm cấu tạo trời đất của Môisen |
Cũng vì đỉnh trời là một khối nước cho nên khi Chúa làm trận lụt Ðại Hồng Thủy để tiêu diệt nhân loại thì Ngài đã mở các cửa đập (floodgates) ở đỉnh trời để cho nước trên đó tuôn xuống làm tràn ngập mặt đất (Sáng Thế Ký 7:11) (Dân Phi Châu thời Cổ Ðại có cùng một quan niệm như Môisen [Watchtower Sept 16, 1996, page 25] chứng tỏ rằng quan niệm của Môisen và của dân Phi Châu chỉ là do sự thiếu hiểu biết mà tưởng tượng nên.)
Ý niệm về Trận Lụt Đại Hồng Thủy cũng do Môisen tưởng tượng ra khi ngồi trên núi cao, nhìn thấy trong đất đá ở độ cao có vỏ ốc vỏ sò, đồng thời vì sự xói mòn cho nên đất đá đã lộ ra có những tầng lớp chồng chất lên nhau chứng tỏ nước đã một thời dâng lên tận núi cao nhất, lút ngập cả thế gian, và đã tạo ra những lớp phù sa chồng lên nhau ở trên núi cao !

Fig 2: chỉ vì thấy những lớp đá xói mòn và vò sò hến trên đỉnh núi mà Môisen cho rằng Nước Lụt đã một thời dâng lên đến tận đỉnh nuí cao
Càng về sau này, với nổ lực bênh vực cho Cựu Ước là chính xác, những học giả đã tìm tòi thêm và kiếm được một câu như sau có chút ý nghĩa: [Thiên Chúa] ... treo cõi đất trên khoảng trống. (Job 26:7 - sách này cũng do Môisen viết ra ). Một số người lại đổ xô vào câu nói này để ca ngợi Cựu Ước là chính xác với khoa học ngày nay, trong khi họ lại lờ đi cái sai lầm vỉ đại đầu tiên của Môisen và của những tiên tri "nói sảng" hầu nâng giá trị của Cựu Ước với hy vọng mọi người tin vào đó như là chân lý bất di dịch. Thiết nghĩ rằng, Môisen khi viết câu “Thiên Chúa treo cỏi đất trên khoảng trống” đã không nghĩ rằng Đất là một Quả tròn treo lủng lẳng trong không gian như ngày nay loài người đã biết, nhưng ông ấy vẫn đinh ninh rằng Đất là một mặt bằng được nâng bằng những chiếc trụ (pillars) cắm trong nước biển như đã viết trong câu Job 9:6 (... Người làm rung chuyển móng nền cõi đất
và cột trụ của nó phải lung lay.). Ông biết rằng Đất nặng thì làm sao nó có thể nổi trên nước được, mà hẳn nó phải cần được nâng bằng những cột trụ. Nhưng mặt dưới của đất là nước, và đã là nước lỏng thì nó không thể làm nền móng để cắm trụ được, do đó ông mới sửa chửa những ai lầm của mình bằng cách nói Thiên Chúa đã dùng phép tắc để nâng nổi cỏi đất trên nước mà chẳng cần gì hết, vì Ngài đã nổi giận đánh gảy các cột trụ. Ông đã diển tả sự nổi trên nước của nó bằng câu “treo nó trên khoảng không” vậy. Chữ “khoảng không” (emptiness) của Thánh Kinh VN đã được dịch sai lệch quá đáng từ chữ “nothing”, đáng ra phải dịch là không treo trên [hoặc nâng lên bằng] cái gì cả.
Những sai lầm của Cựu Ước vẫn được những kẻ bảo thủ kiên trì bênh vực, che dấu khỏa lấp. Chỉ bao giờ có sự tuyên bố công khai từ bỏ những cái sai cũ thì may ra những sự thật khác của Cựu Ước mới được người đọc đặt tin tưởng vào mà thôi.
Trong thời buổi hiện đại, mặc dầu mọi tầng lớp dân chúng đã biết rằng Thánh Kinh Cựu Ước có rất nhiều sai lầm, nhưng Giáo Hội Công Giáo vẫn chưa hề dám tuyên bố công nhận những sai lầm này mà lại tự âm thầm cải đổi khiến đạo lý biến dạng qua chiều hướng mới, khác hẳn với nguồn gốc, đồng thời cấm và lùng bắt những giáo hữu nào tự mình đọc và phổ biến Thánh Kinh vì sợ họ phát giác những sai lầm trong đó (như đã xảy ra trong quá khứ kể từ năm 1414 : Ông William Tyndale đã bị giáo hội truy lùng và thiêu sống năm 1536 vì đã dám cải lịnh dịch Thánh Kinh ra Anh Văn !)
William Tyndale, Protestant reformer and Bible translator
Trong quá khứ, Giáo Hội Công Giáo vì tin rằng quả đất là môt mặt phẳng nằm trên nước như Cựu Ước đã dạy cho nên đã lên án nhà bác học Galileo Galilei vào năm 1634, đòi thiêu sống ông này vì ông ta đã chứng minh ngược lại với Cựu Ước. Về sau Hội Thánh biết rõ là mình sai, nhưng vẫn không thừa nhận cái sai của mình vì tự ái, sợ mất thể diện, trái lại, để vớt vát danh dự với giáo dân, Giáo Hội còn dương dương tự đắc ban ra tín điều “Đức Giáo Hoàng không thể sai lầm” vào năm 1870 và bắt buộc các tín hữu phải tin chắc như vậy. Cho mãi đến triều đại của Giáo Gioàng Gioan Phaolo II ở cuối thế kỷ 20 thì Ngài mới có chính sách hối cải cho cả Giáo Hội và đã tuyên cáo vào năm 1990 là Tòa Thánh đã sai lầm về vụ kết án ông Galileo. Phải mất 356 năm (ba thế kỷ rưởi) Giáo Hội mới có can đảm hối lỗi về một sai lầm lộ liểu và hiển nhiên, khiến cho cả thế giới nhức đầu về sự ngoan cố của giới chức lãnh đạo tôn giáo. Vì sự sai lầm quá hiển nhiên không thể nào lấp liếm được cho nên đành phải thú nhận, vậy thì những sai lầm trong bóng tối sẽ ra sao ? chắc sẽ chẳng bao giờ hối cải !! Nếu cứ cố tình khỏa lấp cái sai của mình để chỉ nêu lên cái trúng thì đó là một hành động thiếu lương tri!
Theo cách dạy mò mẩm của Môisen và sự "nói sảng" của các tiên tri thì chúng ta có thể tin rằng phần lớn những dạy dổ của Thánh Kinh Cựu Ước chỉ là do suy luận phàm tục của con người hoặc do sự hướng dẫn của Thiên sứ mà có, bởi vì nếu đó là "lời của Thiên Chúa" thì không thể nào có sự lầm lẩn vỉ đại như đã nêu trên.
Một sự lầm lẫn khác không kém vỉ đại là việc quả quyết rằng hai ông Bà Adong và Eva là hai người đầu tiên của nhân loại do Thiên Chúa dựng ra. Khoa học khảo cổ đã tìm ra những người tiền sử đã sống trên trái đất này lâu đến 1.2 triệu năm trước (tạm đọc bài When did the first human arise on planer Earth). Riêng Adong và Eva, tính theo Thánh Kinh thì chỉ mới được tạo ra cách đây khoảng 5.100 năm thôi.
Thiết nghĩ Thánh Kinh Cựu Ước không đáng tin cậy chút nào, và Vị Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa mà Bộ Thánh Kinh này đã từng nêu ra cũng được thiết nghĩ không phải là vị Thần Giavê được mô tả như là đấng chẳng biết tiên liệu, dễ lầm lẩn, cần phải mắt thấy tai nghe mới hiểu biết và thích hủy hoại. Môisen viết rằng: ĐỨC CHÚA hối hận vì đã làm ra con người trên mặt đất, và Người buồn rầu trong lòng.7 ĐỨC CHÚA phán: "Ta sẽ xoá bỏ khỏi mặt đất con người mà Ta đã sáng tạo, từ con người cho đến gia súc, giống vật bò dưới đất và chim trời, vì Ta hối hận đã làm ra chúng." (Sáng Thế Ký 6:6-7) Câu này cho thấy Ngài có tình cảm như con người, biết buồn rầu hối hận, biết mình sai lầm, nhưng lại không biết khoan dung và am hiểu tâm lý để dạy dổ loài người mà Ngài dã tạo dựng ra (Cựu Ước đã ghép Đức Giavê và Đấng Tạo Hóa làm một !), Ngài Giavê chỉ biết phá hủy khi không vừa ý mà thôi. Ngài không có thiên lý nhản mà cần phải đích thân đi đến thành Sodoma để xem xét tận mắt tội lỗi của con người trước khi ra tay hủy hoại thành phố này. (Sáng Thế Ký 18:21) v..v Tại sao Đức Chúa Giavê đã có lần muốn tìm gặp để giết Môisen chỉ vì ông này chưa kịp cắt bì đứa con trai đầu lòng của ông? (Xuất Hành 4:24-26). Nếu Đức Giavê là Thiên Chúa tối cao, là Đấng Tạo Hóa, Đấng chỉ bằng một ý nghĩ của mình thì đã tạo dựng được vủ trụ và muôn loài, thông hiểu hết mọi chuyện từ thuở vô cùng cho đến đời đời (Khải Huyền 1:8) thì làm sao Ngài lại có thể sai lầm được và hối hận hoặc phải nhìn bằng đôi mắt thịt để biết, hoặc bắt gặp ông Môisen dọc đường và phải vội vả "kiếm cách" trừng trị trong khi Ngài có dư thừa khả năng thần thông để diệt Môisen chứ chẳng cần dùng đến tay chân ? Thế mà Ngài lại được vua David ca ngợi là "chậm giận và giàu lòng thương yêu"? (Thánh Vịnh 103: 8). Rõ ràng Thánh Kinh Cựu Ước "chưa biết Thiên Chúa Thật là ai" mà chỉ hình dung người qua hình ảnh của Đức Giavê có bản tính như con người. Người xưa gọi Đức Giavê là "Chúa Các Đạo Binh" (ISA 1:24), một tước vị cao cả nhất mà người xưa hình dung được, nhưng nếu gán tước vị này cho Đấng Tạo Hóa thì lại hạ thấp phẩm giá vô cùng cao cả của Đấng Tối Cao này. Họ cho rằng Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa (qua hình ảnh của thần Giavê) là một vị Tướng Quân (... Người là trang chiến binh - Xuất Hành 19:3) đem quân sát phạt kẻ thù, gán cho Ngài những thất tình lục dục của loài phàm trần. Thánh Kinh Cựu Ước kể rằng Đức Chúa Giavê trực tiếp chỉ vẻ cho Môisen điều binh khiển tướng, truyền lịnh cho dân Do Thái phải nhúng tay vào máu để thanh trừng lẫn nhau hoặc diệt chủng dân ngoại (Dân Số 31:17), khuyến khích họ đừng thương xót mủi lòng trước cảnh máu chảy thịt rơi (Ezekiel 9:5). Họ diển đạt những cảm nhận về Thiên Chúa trong họ theo tư tưởng và khuôn mẩu của con người man rợ thời ấy. Chẳng hạn nói đến vinh quang và sức mạnh thì phải dùng đến hình ảnh của vương quyền và binh lực, nói đến loại bỏ thì phải nói đến giết chóc, hủy hoại và tiêu diệt, nói đến bất bình thì phải dùng đến trừng phạt. Họ dùng những hình ảnh cụ thể trong đời sống thường nhật để diển tã những việc linh thiêng cho nên Thiên Chúa đã được mô tả như một vị thần "hung bạo". Rõ ràng đấng Giavê của Cựu Ước không phải là đấng Thiên Chúa Tạo Hóa thông minh, khôn ngoan và quyền phép tuyệt đỉnh vỉ đại vô tận mà nhân loại ngày nay đã chớm thấy được.
Ðối với thời buổi hiện đại người ta không thể chấp nhận được một Thiên Chúa qua cách diển tả của Cựu Ước vì người ta đã tìm thấy được những cái vô cùng vỉ đại và nhiệm mầu của Đấng Tạo Hóa và người ta còn tin rằng Ngài còn vô cùng vỉ đại hơn thế. Người ta thấy rõ rằng Thánh Kinh Cựu Ước không phải là "lời của Thiên Chúa" mà chỉ là tư tưởng truyền đạt của vị Thần Giavê qua tâm tư một số người man rợ rồi được họ diển tả lại một cách thô thiển vụng về. Hoặc nữa, Cựu Ước vốn là tư tưởng của những Thiên Sứ nào đó truyền dạy mớm ý (mà Thiên Sứ thì cũng có lắm loại căn nguyên chưa rõ, xấu tốt chưa phân minh, cũng có thể là từ Satan), hoặc đó là tư tuởng và những cảm nhận mơ hồ của các tiên tri qua giấc mộng mà lắm lúc phải kiểm chứng bằng hai viên đá Urim và Thummim (!) để phân minh thật hư rồi viết lên, làm cho các thế hệ con cháu sau này hiểu sai lạc về Ngài và giảm bớt niềm tin vào Ngài.
Cũng vì "vin" vào những tư tưởng tầm thường sai lạc của Cựu Ước, xem chúng quan trọng hơn những điều Ðức Giêsu đã sửa đổi và dạy trong Tân Ước (Mát thêu 5:43/ 25:37-40) mà giáo hội Công Giáo đã phạm những tội lỗi tày đình. Họ chẳng xem lời giáo huấn của Chúa Giêsu ra gì và cũng chẳng yêu thương gì Chúa (Gioan 14:15), họ đã tra tấn vô cùng man rợ, giết và thiêu sống những người anh em cùng thờ một Chúa mà họ cho là "lạc đạo" trong những chiến dịch Toà Án Dị Giáo của họ (The Inquisition) lấy cớ là để làm hài lòng đấng Thiên Chúa hung bạo của Thánh Kinh Cựu Ước như lời một vị giáo sĩ Công Giáo thời đó đã ngụy biện phát biểu (nhưng thật ra là để củng cố nền bá đạo của họ.): "If a just and omnipotent God wreaked his divine vengeance on those of his creatures who offended him, it was not for man to question the righteousness of his ways, but humbly to imitate his example and rejoice when the opportunity to do so was vouchsafed to him." (Nếu Ðấng Thiên Chúa Toàn Năng và Công chính đã giáng sự trả thù linh thiêng của Ngài lên những kẽ đã xúc phạm đến Ngài [trong số những tạo vật của Ngài], thì hẳn loài người chẳng được thắc mắc về tính công chính trong cách hành xữ của Ngài, mà chỉ phải khiêm tốn bắt chước noi gương Ngài và lấy làm hân hoan khi cơ hội được ban bố cho họ để được thi hành như vậy).
Nhìn thấy Giáo Hội Công Giáo giêt Chúa và thiêu sống Chúa trong quá khứ, nhìn thấy họ hiện nay vẫn nhởn nhơ không tỏ vẻ ăn năn mà trái lại còn vác mặt tự cao cho mình là thánh thiện, điều này khiến cho những giáo dân khát khao chân lý cảm thấy kinh tởm và muốn mửa. Bao giờ Giáo Hội Công Giáo, những giáo sĩ và tín hữu của họ còn tự kiêu, còn ngạo mạn và còn chưa biết ăn năn hối cải thì ngày đó họ vẫn là thứ bị Thiên Chúa từ bỏ (Lk 13:25 hoặc Mt 5:20) , họ không thể lấy cớ mình đã làm nhiều việc thiện để bù đắp rồi nhân đó lại tự phong cho mình là thánh thiện trở lại trong khi kho tội lỗi của họ vẫn còn vùi lấp chưa khai quật lên để bị xét án cho cái nợ máu đối với nhân loại.
Giáo hội Công Giáo xem thường xã hội loài người, giết người xong họ chỉ cần xưng tội với Chúa là an tâm ngủ ngon, lòng dạ không còn bị ám ảnh, dù rằng hậu quả của việc giết người của họ vẫn đang còn gieo rắc đau khổ lâu dài trên hàng hàng lớp lớp nạn nhân của họ, đang còn ám ảnh lên lương tri của cả thế giới loài người. Họ tự cho mình quyền tiếp tục vểnh mặt trở lại để kiêu ngạo với đời và lại tự xem mình là con ngoan của Thiên Chúa. Cũng vì không theo giáo lý chân thật của Chúa Giêsu, tôn trọng sự sống của con người trong Tân Ước, mà lại chạy theo chủ trương khát máu giết người qua lời phán dạy của Ngài Giavê trong Cựu Ước mà Giáo Hội Công Giáo đã trầm luân trong tội lỗi và sai lầm. Đài PBS tối ngày 29 tháng 10, 2002, có chương trình 2 tiếng đồng hồ với đề tài “Galileo’s Battle For The Heavens”, trong đó chúng ta biết được, giáo hội Công Giáo thời xưa quan niệm rằng, nếu đem những sự đau đớn của con người do bị giáo hội tra tấn bằng những hình cụ dã man nhất của loài người và mang đi thiêu sống, để so sánh với những sự đau đớn bị “Thiên Chúa lòng lành” (The Good God) đày đọa vĩnh viễn nơi hỏa ngục thì chẳng thấm vào đâu. Bởi vậy giáo hội chọn biện pháp nhân từ và thánh thiện hơn, như căng miệng, cắt lưỡi, banh ngực, căng người, treo ngược người, xẻ đôi người từ háng trở lên v..v.. hoặc thiêu sống người, để các nạn nhân được đền tội bằng thể xác một cách “nhẹ nhàng hơn” thay vì để cho họ phải vỉnh viển chịu hình phạt đau đớn gấp bội của “Thiên Chúa lòng lành” trong hỏa ngục. Trong chương trình trên có vài cảnh tra tấn con người và thiêu sống Giordano Bruno, một linh mục kiêm khoa học gia, chỉ vì ông ta không chịu rút lại niềm tin vào thuyết trái đất quay xung quanh mặt trời của Copernicus mà giáo hội cho là trái ngược với Thánh Kinh.
Quả thật là Giáo Hội Công Giáo thời đó đã công nhiên xem Thiên Chúa là một đấng thích trừng phạt bằng cực hình thật tàn ác và muốn bắt chước theo Ngai. Và thời đại bây giờ Hồi Giáo cũng theo một phương pháp tương tự để tiêu dìệt kẻ mà họ cho là “bất trung” không thờ phượng Đức Allah (tức Đức Giavê của Cựu Ước) để rồi gieo rắc đổ máu và tội ác. Ai sẽ vui sướng trước cảnh máu chảy thịt rơi này ? Ai là kẻ thèm hưởng những sinh mạng bị sát tế này ? Chính là tên Satan loài quỷ dử, là bọn đang hoan hỉ trước cảnh tàn phá nhân loại do những tay sai của chúng thi triển. Vì vậy nếu Thánh Kinh Cựu Ước cho rằng Đức Giavê thích hủy diệt nhân loại, khuyến khích diệt chủng, khuyên những kẻ giết người đừng chùng tay khi chém giết và thương xót nạn nhân kể cả đàn bà con gái và trẻ nít đang bú sửa mẹ, thích được dâng hiến bằng xác người và sinh vật được toàn thiêu thì Thánh Kinh Cựu Ước đã vô tình mô tả Đức Giavê như tên quỷ Satan vậy !
Giáo hội Công Giáo vẫn còn bám víu vào Thánh Kinh Cựu Ước để mong gieo rắc thêm lỗi lầm nữa hay sao ? Họ vẫn bắt giáo dân ca tụng Cựu Ước bằng câu "Đó là lời Chúa" một cách công khai là để tuyên dương cái gì ? Như đã đọc ở trên, Cựu Ước đã đưa Giáo Hội vào tội lỗi bởi vì Cựu Ước không phải hoàn toàn là "lời Chúa" mà hầu hết là lời phán dạy của những thần linh u tối thích bạo lực như thần Giavê, như Thiên Sứ xấu xa, như Satan, như những tiếng nói âm thầm trong đêm khuya (mà xuất xứ chẳng ai xác định được là gì, là của ai !).
Chính Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa cũng không tin tưởng vào các Thiên Sứ của Ngài và thường trừng phạt các thần linh xấu này thì tại sao loài người lại phải tin vào họ, hoặc tin vào một số tiên tri do họ truyền dạy để lỗi lầm theo ? (Job:4:18) Các tiên tri này khi nổi hứng đã nói lên những điều xàm bậy do Thiên Sứ ám thị và rêu rao đó là lời của Thiên Chúa để rồi hậu thế vin vào đó mà tin tưởng và tung hô "Đó là lời Chúa". Những câu chuyện xàm xở và thiếu đạo đức do các tiên tri nói ra (nhất là của tiên tri Ezekiel) đã được gọi là "Thánh Kinh" dù nó chẳng có gì là "thánh", chẳng dám để cái Thánh Kinh này cho con nít đọc sợ chúng bắt chước mà sinh ra dâm loạn và tàn bạo. Tiên tri là thứ gì mà các bậc lãnh đạo tôn giáo thuở xưa cũng như nay đều kính nể? Hảy đọc những đoạn ghi trong Thánh Kinh sau đây để biết họ là ai:
• Tiên tri chỉ là thứ nằm mơ, thiệt giả không phân minh. (1SAM 9:9) Có nghĩa là họ có khả năng siêu hình hơn người tầm thường để cảm nhận về thế giới tâm linh chứ không định nghĩa họ là những người truyền đạt tư tưởng của Thiên Chúa.
• Nếu tiên tri tự xưng mình nói lời của Thiên Chúa, nhưng lời đó không ứng nghiệm thì đó không phải là Lời Chúa mà chính là lời họ nói càn (DEUT 18:22 ) Theo câu trên thì một khi những lời trong Cựu Ước đã không ứng nghiệm mà là sai lầm thì những lời đó không phải là “Lời của Thiên Chúa”. Hiện nay người ta dã tìm thấy trong Cựu Ước rất nhiều điều sai lầm và không ứng nghiệm, tức là lời nói càn của tiên tri, tại sao Giáo Hội Công Giáo vẫn tuyên xưng “đó là lời Chúa” ?
• Nếu lời nói của tiên tri đã ứng nghiệm, nhưng nó lại hướng dẫn cho người đọc xa rời Chúa, thì những tiên tri này là tiên tri giả, không được nghe theo. (Đệ Nhị Luật13:3)
Sự thật đã chứng minh rằng Giáo Hội đã vì nghe theo lời Cựu Ước mà giết người anh em (tức gián tiếp giết Chúa Giêsu) và làm cho nhân loại ghê sợ Thiên Chúa, xa rời Thiên Chúa. Vậy Cựu Ước phải là thứ chúng ta không được tin theo mới đúng chứ ! Theo các kiểu định nghĩa trên của Cựu Ước thì người xưa không tin những tiên tri nào không ca tụng Giavê dù rằng họ “nói thật”, và những tiên tri nào ca tụng Giavê thì thuộc loại đáng tin (nếu đúng thì hoan nghênh, mà nói sai nói càn thì lờ đi mà thôi.) Theo kiểu định nghĩa này thì muốn biết một tiên tri là ngôn sứ trung thật của Thiên Chúa hay không, người xưa ắt phải chờ đợi cho đến lúc lời nói của họ là đúng với sự thật đang xảy ra và sự thật này phải là ca ngợi Thiên Chúa mới được. Vậy thì tiên tri (nói trước về tương lai mà phải chờ đợi để kiểm chứng bằng hiện tại) thì có ích lợi gì cho hiện tại đâu ? Đáng ra những tiên tri nói sai làm sai tức là họ không có thần khí của Giavê thì phải loại bỏ ngay, tại sao vẫn chấp nhận họ và tiếp tục nghe theo họ ? Ca tụng không trung thực về Giavê hoặc hành động sai quấy để phục vụ cho Giavê thì cũng không lổi lầm gì hay sao ? Phải chờ cho đến khi biết rõ Tiên tri nói sai thì lắm lúc đã muộn màn vì đã nghe theo lời xúi quẩy của họ để đi giết người tru diệt biết bao kẻ vô tội rồi ! Những câu trên cho thấy rằng tiên tri chỉ được xem là tốt khi những điều y nói thuận với một đạo lý khuôn thước do truyền thống áp đặt. Vậy tiên tri nào có giá trị gì ! Họ phải nói theo một khuôn mẩu nào đó thì mới được chấp nhận thôi. Vậy muốn được tôn lên làm tiên tri thì phải xu thời, chỉ nói lên những điều mà truyền thống cho phép mà thôi.
Tư cách của tiên tri ra sao ? Phần đông họ là những kẻ bị thần khí nhập, khiến trở thành như một người khác hẳn (1 Sam 10:6), hoặc nói sảng, điên khùng, cởi truồng lỏa lồ (1 Samuel 19:24) Sự kiện trên chứng minh là rất nhiều tiên tri đã thường nói sảng và thoát y trần truồng như kẻ bị ma nhập. Chữ nói sảng ở đây rất sát nghĩa với chữ "prophesy" trong định nghĩa về tiên tri .Và hành vi của tiên tri tốt xấu không phân minh, lắm lúc điên khùng. Vậy có nên tin vào lời của mấy ông tiên tri khùng trong Cựu Ước hay không ? Trong 1 ngàn điều họ nói chỉ có 1 điều là ứng dụng được, thế mà cả hệ thống Thiên Chúa Giáo lại cho rằng Cựu Ước là “lời Chúa”, là chân lý.
Tiên tri EzeKiel là một ông tiên tri loại đó, được Giavê hướng dẩn làm nhiều điều ma quái:
• Giavê hướng dẩn Ezekiel làm phù thủy, chỉ vẻ cho ông cách làm bùa ém, lập pháp trận để trừng phạt dân thành Giêrusalem (Ezek 4:1-3)
• Giavê bắt Ezekiel phải hành xác để cho trận pháp được thành công: Ông phải tự trói mình, phải nằm nghiêng một phía nhiều tháng, chỉ được ăn bánh nướng trên lửa đốt bằng cứt người (và vì Ezekiel than van quá cho nên Giavê cho phép ông được nướng bằng lửa của phân bò cho bớt hôi thối) (Ezek 4:12)
• Và Giave hí hửng khi thấy dân thành Giêrusalem sắp bị phép phù thủy của mình làm trở nên đói khát (Ezek 4:16-17)
Những hình ảnh nêu trên của Giavê và của các tiên tri của Ngài có đáng cho chúng ta khâm phục và tin tưởng như Giáo Hội Công Giáo đòi hỏi không ? Những người tin mù quáng vào Cựu Ước và tuyên truyền những điều sai lầm trong đó thật đã xem thường công lao giảng dạy của Chúa Giêsu vì mục đích của Chúa Giêsu khi đến trần gian này, ngoài việc chịu đóng đinh trên khổ giá để cứu chuộc nhân loại, còn là rao giảng một giáo lý mới cho muôn dân. Ngài phải mất ba năm đi rao giảng, tuyển mộ môn đồ và truyền lịnh cho họ phải : .. dạy bảo muôn dân tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em..". "teaching them to observe all the things I have commanded you." (Mát thêu 28:20). Rõ ràng Ngài KHÔNG KHUYẾN KHÍCH họ loan truyền giáo lý cũ trong Cựu Ước với những giết chóc tru diệt, mắt đền mắt răng đền răng, mà chỉ dạy dổ muôn dân tuân giữ "mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" thôi, đó là những giới răn mới, tràn đầy tình thương, tôn trọng nhân bản và mạng sống con người, khoan dung và tha thứ, hoàn toàn khác hẳn những tư tưởng và hành động hung bạo của Giavê.
Chúa Giêsu cũng đã răn dạy rằng: Không nên pha trộn giáo lý mới của Ngài với giáo lý cũ của Cựu Ước vì hai bên sẽ chọi nhau. (Luke 5:36-38) Ngài nói trước rằng, những ai đã tin vào Cựu Ước thì sẽ cho rằng Cựu Ước là đúng (Luke 5:39) và xem thường những lời giáo huấn của Chúa Giêsu, không thèm thưong yêu tha nhân, như Giáo Hội Công Giáo đã làm khi mở chiến dịch Toà Án dị Giáo giết hại anh em đồng đạo. Các đoạn kinh thánh nêu trên còn cho thấy sự bất tương dung giữa hai nền giáo lý cũ của Cựu Ước và giáo lý mới của Tân Ước và khuyên những ai đã dùng thứ nào thì không nên dùng thứ kia vì sẽ đối chọi nhau. Bởi lẽ Ngài đã sai bảo các tông đồ đi rao giảng giáo lý mới của Ngài, như vậy gián tiếp Ngài đã dẹp giáo lý cũ của Cựu Ước qua một bên không dùng tới nữa để tránh sự đối chọi. Thế mà hiện nay, nhiều tôn giáo, tuy tự xem là giáo đồ của Ðức Giêsu Kitô, nhưng vẫn còn bám từng chữ một của Cựu Ước để làm đường lối chỉ đạo. Và trong các nhà thờ Công Giáo, mỗi lần đọc xong một đoạn trích trong Cựu Ước thì bắt giáo dân phải hô lên: "Ðó là lời Chúa, Tạ ơn Chúa !"
Đìều đáng ngao ngán ở đây là Giáo Hội Công Giáo thừa biết rõ Cựu Ước là sai lầm nhưng vẫn ép buộc những con chiên hiền lành của mình phải tin và tung hô những điều sai lầm đó. Họ thừa biêt rằng Cựu Ước chỉ là "khai quang" còn Tân Ước mới là "con đường đã được thành lập" dẩn tới sự sống muôn đời. Có con đường nhựa xây đắp tốt lành rồi thì sự khai quang đã chấm dứt, nó chỉ là ấn tượng có giá trị lịch sữ mà thôi chứ không còn tác dụng trên thực tế nữa.
"Lời Chúa" phải là lời chứa đựng tình thương và không có tư tuởng bạo lực. Đức Đưong Kim Giáo Hoàng Bênêdictô XVI đã xác định rõ ràng qua câu “Bạo lực là bất tương dung với bản chất của Thiên Chúa và của linh hồn” ("Violence is incompatible with the nature of God and the nature of the soul.") . Vì vậy những lời truyền phán bất nhân, đầy bạo lực của Đức Giavê trong Cựu Ước chứng tỏ vị Thần linh này không phải là Thiên Chúa.
Ngoài ra, tiên tri Êzêkiel đã mô tả thần Giavê như là một vị thần qua đường trên trái đất, tình cờ bắt gặp một bé gái sơ sinh (dân thành Jerusalem) do ai đó (Đấng Tạo Hóa) sinh ra để vất vưởng không chăm sóc cho nên ngài mới đến chiếm đoạt làm của riêng cho mình, nuôi bé gái này lớn khôn thành một thiếu nữ kiều diểm và cưới nàng làm vợ. (Ezek 16:4-14)
Xem ra người xưa trong Cựu Ước đã không phân biệt được rõ ràng Đức Giavê và Đấng Tạo Hóa. Theo như bài viết trên của Ezekiel thì thần Giavê chỉ là cha nuôi của loài mgười cho nên đã đối xử với họ một cách tàn tệ đanh ác, còn hơn cả mấy mụ dì ghẻ nữa. Nhưng vì tâm trạng u muội chung của loài người lúc đó, không chịu tìm hiểu sâu hơn cho nên đã lầm lẩn xem thần Giavê như cha đẻ của mình, tức xem vị thần này như Đấng Tạo Hóa, do đó Đấng Tạo Hóa, đấng Thiên Chúa nhân hậu cha của Chúa Giêsu đã bị họ mô tả như một hung thần và bị gán cho những hành vi và tư tưởng thù nghịch khủng khiếp với nhân loại, bao giờ cũng muốn trả thù, giết chóc và tiêu diệt con người khi không vừa ý.
Thật ra sự ý thức về Thiên Chúa đã sẳn có trong mọi người chúng ta, đó là khả năng bẩm sinh nằm sẳn trong tiềm thức mà Thiên Chúa đã gắn trong tâm khảm của mọi người khi tạo dựng con người theo đúng hình ảnh của Ngài. Có thể nói đó là một tấm gương được gắn sẳn trong lòng con người luôn phản chiếu hình ảnh của Thiên Chúa để họ soi vào đó mà biết nguồn gốc. Không phải chỉ nhờ vào chiêm bao và thị kiến do Đức Giavê hoặc các thần linh khác ám thị cho các tiên tri thì loài người mới biết được về Thiên Chúa. Có lắm kẻ, tuy không thuộc về dân Do-Thái (là một dân tộc được Thiên sứ của Thiên Chúa mạc khải cách riêng) nhưng họ cũng biết về một Thượng Ðế, một Ðấng Tạo Hóa hoặc một Ðấng Cứu Chuộc được sinh xuống trần để cứu vớt nhân loại; chẳng hạn như ba nhà thông thái phương Ðông (thường gọi là Ba Vua) đã biêt Ðức Giêsu giáng trần mà vượt ngàn dặm đến để thờ lạy (Matthêu 2:1-2). Tuy nhiên vì tội lỗi đã làm mờ ám tấm gương này nên con người càng ngày càng quên mất hình ảnh của Ngài. Và một đôi khi họ gặp phải những yếu tố tác động huyền bí nào đó làm cho tấm gương này rõ lên một chút thì họ lại nhìn thấy những chân lý mù mờ qua đó. Những yếu tố huyền bí này được lắm kẻ cho là trực tiếp đến từ Thiên Chúa.
Trong thế giới vô hình, có muôn vàn điều huyền bí mà con người chưa thể dọ dẩm hiểu được, có thể những sự ám thị này cũng phát xuất từ những nguồn sức mạnh thần linh khác ngoài Thiên Chúa, chẳng hạn như Thiên sứ, ma quỷ hoặc các thần linh nhỏ bé, hoặc từ sức mạnh tâm linh của loài người ảnh hưởng lên nhau hoặc lên chính mình (cái Đức Tin mà Chúa Giêsu đã từng nói rằng nếu nó chỉ lớn bằng hạt cải cũng có thể chuyển núi dời sông - Matthêu 17:20).
Những sức mạnh thần linh yếu kém này không phải là Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa vì họ không thể truyền đạt trực tiếp ý muốn của mình bằng ngôn ngữ của con người. Những thần linh này vì thiếu quyền năng trực tiếp truyền đạt cho nên phải dùng đến những thị kiến, những giấc mơ hoặc những phương tiện khác như hai viên đá Urim và Thummim. Nếu những thần linh nhỏ bé này thuộc thành phần xấu như ma quỷ thì chúng phải gián tiếp dùng hình ảnh dối trá để dụ dổ lừa đảo con người và sai khiến họ làm những điều xấu xa mà chúng muốn, như giết người, bôi lọ thanh danh của Thiên Chúa vv...
Vậy đừng gán hết những mãnh lực huyền bí, những thị kiến hoặc giấc mơ, hoặc sự chỉ giáo của hai viên đá Urim và Thummim là phát xuât từ Thiên Chúa. Ví dụ: Con gà trống cứ đúng giờ thì cất tiếng gáy, mọi người nói là Thiên Chúa cảm hứng làm cho nó gáy đúng giờ, giúp cho nông dân thức dậy làm việc đồng án. Nhưng một hôm nó phải gió, không gáy được, hoặc ăn phải hột đùng đình ngứa cổ gáy loạn xạ, thì không lẽ tiếng gáy của con gà này cũng do chính Thiên Chúa điều khiển, đáng để cho nông dân nghe theo hầu trật hết giờ giấc của họ sao ?
Ở đây cũng nên nói về hai viên đá Urim và Thummim là hai vật mà các thầy cả Đạo Do Thái lúc xưa đã dùng để thỉnh ý Đức Giavê. Phải chăng hai viên đá này có huyền lực giúp cho nảo bộ con người được rung cảm với thế giói tâm linh để đón nhận những hiểu biết vượt tầm của xác thân con người?

Hai viên đá Urim v àThummim thường được thầy tư tế mangtrong cái yếm ở trước ngực trong đó có đựng 12 viên ngọc tượng trung cho 12 chi tộc Israel
Thánh Kinh không có lời giải thích nào về nguồn gốc và chức năng của hai viên đá này cho nên hầu hết các nhà thần học Công Giáo cũng không thể giải thích. Thiết nghĩ người xưa không có đủ khả năng để chế tạo ra những dụng cụ thần kỳ như vậy mà có lẽ Thiên Sứ đã cung cấp hai viên đá này cho họ. Trong Thánh Kinh dịch ra tiếng Việt, dịch giả dùng chữ "thẻ Urim" để nói đến hai viên đá Urim và Thummim. Tuy nhiên nhờ đọc sách “ the book of Mormon” mà người viết biết được đó là hai viên đá quý, được gắn vào hai đầu của cánh cung để giúp loài người thông hiểu và truyền đạt ý nguyện với cỏi linh thiêng. (hảy xem tài liệu Urim và Thummim đính kèm).
Gán hoàn toàn những tư tưởng trong Cựu Ước cho Thiên Chúa Đấng Tạo Hóa thì thật là hồ đồ. Nếu Cựu Ước là hoàn toàn "lời Chúa" thì Chúa Giêsu đã không bỏ công đưa ra một giáo lý mới để dạy dổ muôn dân, vì "lời Chúa" thì đâu có thể sai lầm hoặc thiếu sót để phải gạt bỏ hay bổ sung ! Ðúng là Chúa Giêsu đã không sửa đổi một điều nào của Cựu Ước, Ngài không xóa bỏ một chấm một phết nào, nhưng Ngài chỉ chú thích bên cạnh, Ngài không phá căn nhà cũ Cựu Ước nhưng chỉ xây dựng một căn nhà mới Tân Ước để cạnh căn nhà cũ mà thôi, với lời khuyến cáo: Chỉ ở trong một nhà chứ đừng ở cả hai.
Hảy thử đối chiếu hai cách diển tả Thiên Chúa, một do Môisen cùng các tiên tri, và một do Ðức Giêsu, thì chúng ta thấy rõ ràng hai cách này khác xa nhau hẳn: Bên Cựu Ước, Thiên Chúa được mô tả như một vị hung thần, thích hủy hoại và trừng phạt, không biết tiên liệu, mỗi lần thích thì hứa sẽ nâng đỡ đến "muôn đời" (time indefinite), nhưng sau đó thấy người ta không vừa ý mình thì đổi ý, không giúp đỡ nữa hoặc trừng phạt, Ngài không trung thành với lời hứa "muôn đời" của mình nữa. ( 1 Samuel 2:30 ) Ngược lại, bên Tân Ước thì Ngài là tình yêu lai láng, kiên nhẩn chờ đợi cho đến thời chung mãn mới xét xử để thưởng phạt, hầu tạo cơ hội cho con người hối cải.
Ai mới chính là Thiên Chúa Ðấng Tạo Hóa của chúng ta? Giavê hung dữ của Môisen Cựu Ước hay là ABBA, đấng Cha nhân hậu của Chúa Giêsu Kitô trong Tân Ước? Đâu là giáo lý đem lại sự cứu rổi ? Phải chăng đó là sự hung tàn giết ngưòi của Cựu Ước hay là tình yêu thương hy sinh mạng sống của Chúa Giêsu mang lại sự sống vĩnh cửu của loài người ? Kinh Sách Cựu Ước chỉ hứa hẹn những phần thưỏng trần gian cho những ai tuân phục Giavê được hạnh phúc, và sở hữu được đất đai và của cải trên trần thế này. Không có câu nào trong Cựu Ước cho thấy Giavê có quyền năng cho con người được sống đời đời, mà trái lại Ngài còn sợ loài người được sống mãi như Ngài, cho nên Ngài đã cản trở không cho Adam và Eva hái và ăn trái của Cây Trưòng Sinh mà Ngài đang trồng trong vườn Địa Đàng (Sáng Thế Ký 3:22) . Ngài còn muốn loài người ngu muội cho nên đã cấm họ ăn Trái Cây biết Thiện Ác vì nếu ăn được trái này thì họ sẽ trở thành những vị thần có sự hiểu biết giống như Ngài (Sáng Thế Ký 3:5) .
Và sau khi con rắn đã nói sự thật này cho bà Eva nghe thì Bà không còn tin lời răn đe của Giavê nữa và đã ăn trái cấm. Và Giavê lo ngại vì thấy hai ông bà đã khôn ngoan giống như Ngài (Sáng Thế Ký 3:22), Trước đó Ngài cảnh cáo Adam và Eva rằng nếu họ ăn trái biết Thiện Ác thì họ sẽ chết. Thật ra sự chết chỉ đến với họ khi họ bị đuổi ra khỏi vườn Địa Đàng và không còn được ăn trái cây Trường Sinh nữa. Trước đó Giavê đã hứa cho họ ăn hết mọi loại trái cây (kể cả trái Trưòng Sinh) ngoại trừ chỉ một loại là trái biết Thiện Ác thôi. Satan con rắn đã vạch trần ý đồ của Giavê và y đã không nói láo. Và có lẽ cũng nhờ ăn trái biết Thiện Ác cho nên Adam và Eva đã biết lấy lá che thân, tạo áo quần cho mình, nếu không thì giờ này Ông Bà vẫn còn sống (nhờ tiếp tục ăn trái Trường Sinh) và trở thành hai con khỉ già đơn độc không con cái, người đầy lông lá và trần truồng như bọn khỉ đột trong sở thú.
Tân Ước thì lại hứa hẹn cho loài người thoát khỏi sự chết và được hạnh phúc vĩnh cữu nếu tuân theo lời dạy của Chúa Giêsu. Rõ ràng hai con đường đi khác nhau, sao lại có thể hòa nhập được với nhau ? Chúng ta thừa biết rằng lối sống đạo của những người Kitô hữu hiện nay đang được dẩn dắt bởi giáo lý của Tân Ước, nhưng vì tính bảo thủ, Giáo Hội vẫn còn mon men thèm muốn mùi rượu nồng của Cựu Ước, muốn mang nó trở lại để nhét vào lòng của chúng ta, vì Cựu Ước có thể làm thỏa mãn mộng làm bá chũ nhân loại của Giáo Hội. Trái lại Tân Ước thì lại biến họ thành tôi tớ, vì giáo lý Tân Ước buộc họ phải quỳ xuống rửa chân cho anh em mình. Giáo lý của Tân Ước đi ngược lại với lòng ham muốn của họ vì họ chỉ muốn được người khác rửa chân cho họ thôi, cho nên họ nhồi sọ cho những con chiên ngoan đạo biết tuyệt đối vâng lời và phục vụ họ, rửa chân cho họ, còn họ thì ngồi ngất ngưởng, giữ vai trò nhả ngọc phun châu, mặt mày vênh váo, hoặc phừng phừng nổi giận mỗi khi nghe người khác vạch ra những lỗi lầm của họ, cặp mắt họ láo liên khi nhìn thấy của cải thế gian và những thú vui thế tục. Họ bao che cho nhau trong những hành vi xâm phạm tình dục con nít và phụ nữ, họ cũng cố tổ chức chặt chẻ để không ai có thể lung lay quyền lực của họ.
Chúng ta cũng biết rằng, trong lòng Giáo Hội hiện nay đang còn có những tu sĩ thánh thiện, những đấng biết thi hành đúng đắn lời Chúa Giêsu dạy, nhưng tiếc rằng số ít ỏi này đã bị số hư hỏng lủng đoạn chèn ép, ảnh hưởng thánh thiện và thành quả đạo đức của những vị chân tu này đã bị triệt tiêu bởi thuốc nhuộm "ô nhục" tạo ra bởi cái "Mùi tanh của máu", "mùi thối của dâm ô" do tội lỗi của Giáo Hội trong quá khứ và hiện tại tạo ra. Đến bao giờ các người Kitô hữu thánh thiện mới được thoát khỏi cái "màu thuốc nhuộm tội ác" để có thể ngẩng đầu lên và cảm thấy thoát khỏi cái mặc cảm xấu xa do cái nhản hiệu Công Giáo mà họ đang mang trên người? Thiết nghĩ, chỉ bao giờ Giáo Hội ăn năn hối hận cáo lỗi, không những chỉ với Thiên Chúa, mà còn với cả nhân loại, phải tuyên bố bỏ đi những chủ thuyết tà vạy, chẳng hạn tín điều đầy kiêu ngạo là "Đức Giáo Hoàng không thể sai lầm" thì lúc đó họa may, những người Kitô Hữu thành tâm thánh thiện mới thoát được cái mùi tanh hôi đó, mới được rửa tội trở lại. Nên nhớ hiện nay Giáo Hội chưa chịu hủy bỏ tín điều "Đức Giáo Hoàng không thể sai lầm", họ vẫn tự vác mặt lên kiêu căng, cho mình có quyền hạn như Thiên Chúa (tín điều ban hành năm 1216), xem trí tuệ của nhân loại là không đáng kể, thì làm sao tự nói mình đã hối lỗi ?
Sự kiện Giáo Hoàng tự xem mình có quyền hạn như Thiên Chúa quả thật là một sự hàm hồ quá đáng. Dựa theo câu Thánh Kinh MT 16:19-20, giáo hội tự cho mình quyền nắm giữ linh hồn của loài người trong tay. Thật ra, lý do Chúa Giêsu gọi thánh Phêrô là “đá” là vì ông này đã được Đức Chúa Cha ban cho một lòng tin vững như đá, và chính cái lòng tin như đá này mà Chúa Giêsu đã ám chỉ làm nền tảng vững chắc cho Giáo Hội của Ngài chứ không phải là riêng ông Phêrô. Tóm tắt, nền tảng của giáo hội là niềm tin vững như đá vào Thiên Chúa chứ không phải là vào một con người hay một nhóm người vì đức tin của họ có thể thay đổi tùy hoàn cảnh và giai đoạn. Chính ngay ông Pherô này cũng đã bị Chúa Giêsu mắng là “quỷ Satan” (Mt 16:23) thì làm sao đủ tư cach để thay mặt cho Chúa Giêsu và Thiên Chúa ?
Ta có thể thấy đức tin vững như đá ở đâu ? Chỉ ở Vatican ư ? Không hẳn như vậy ! Theo lời Chúa Giêsu dạy thì Đức Tin này hiện hữu giữa bất cứ một tập thể nào có từ hai người trở lên và có đủ điều kiện để Chúa đến và ngự giữa họ (Mt 18:18-20) và quyền buộc tội hoặc tha tội cũng thuộc về mọi tập thể đủ điều kiện này chứ không riêng gì Vatican.
Cựu Ước là gì: Đó là “Giao Ước Xưa”, một giao ước, một hợp đồng của Giavê đối với ông Abraham với lời hứa ban cho ông nhiều đất đai và dân tộc đông đảo (dân Do Thái) là phần thưởng vật chất trên trần thế nếu ông và dân của ông chịu thờ phượng và vâng lời Đức Giavê (Sáng thế Ký 17:1-27) Cái giao ước xưa đó cho đến nay đã không hề thực hiện được vì Dân Do Thái chưa hề có được một vùng đất hứa “đầy sửa và mật ong” và dân số của họ không được nhiều “như sao trên trời như cát dưới biển” mà chỉ là một thiểu số không thể nào sánh bằng các dân số khác trên thế giới như Trung Quốc, Ấn Độ vv...
Giao Ước cũ đã không còn ảnh hưởng gì nữa vì khi Chúa Giêsu ban phép Thánh Thể, Ngài đã ban một Giao Ước Mới và Vĩnh Cửu , đó là giao ước của sự "hy sinh mạng sống của Ngài cho nhân loại" để cứu chuộc loài người khỏi sự hư mất do ma quỷ lôi cuốn, cho họ được sống vĩnh cữu.
Giao Ước Mới không hề xúi tín hữu đi giết người mà ngược lại chỉ chú trọng đến sự sống linh thiêng lâu bền của con người mà thôi, Giao Ước này chủ trương hy sinh mạng sống của mình để cứu lấy linh hồn của mình và của người khác mà thôi.
Giao Ước Mới của Chúa Giêsu còn được gọi là Tân Ước. Trong giao ước mới này làm gì có tín điều "Giáo Hoàng bất khả sai lầm" (ban bố vào năm AD 1870)? làm gì có tín điều "Giáo Hoàng thay mặt Chúa Giêsu" và "Giáo Hoàng thay mặt Thiên Chúa" (AD 1216)? làm gì có tín điều "người dân không được đọc Thánh Kinh" (AD 1229) ? làm gì có tín điều "Truyền thống có ngang thẩm quyền với Thánh Kinh" (AD 1545) ?
Thánh Kinh (lời Chúa do con người viết lại) lắm lúc cũng đã sai rồi thì còn nói gì đến truyền thống là thứ mà loài người hữu hoại đặt để ra ? Giáo Hội Công Giáo cần phải tái sinh lại trong Chúa Giêsu, trong Thánh Linh (Gioan 3:1-7) và thi hành giáo huấn của Tân Ước, phải khước từ mọi tà thuyết trong Cựu Ước vì đó không phải là "lời Chúa".
------------------------------------
Phần Phụ chú:
Hai viên đá Urim và Thummim:
Trích " Chứng ngôn của Tiên Tri Joseph Smith" trong Bản dịch Việt Ngữ của sách "the Book of Mormon :
"..........[Thiên Sứ Moroni đã hiện ra cùng tiên tri Joseph Smith và truyền cho ông này đi tìm của linh thiêng được chôn dấu] "......ông nói rằng có một cuốn sách đã được chôn dấu, chữ viết trên những bảng khắc bằng vàng ghi chép lại lịch sữ của các sắc dân thời xưa sống trên lục địa này và nguồn gốc của họ. ông bảo rằng sách ấy chứa đựng trọn vẹn Phúc âm vĩnh cữu, do chính Ðấng Cứu Rổi đã ban cho dân chúng thời xưa. ông cũng nói thêm rằng, còn có hai viên đá gắn trên những cây cung bằng bạc, cũng được chôn dấu theo. Hai viên đá này được buộc vào một miếng giáp che ngực và được gọi là Urim và Thummim. Vào thời xưa ai có quyền sở hữu và xử dụng hai viên đá này đều thành vị tiên kiến. Và Thượng Ðế đã chuẩn bị hai viên đá này để dùng vào việc phiên dịch quyển sách nói trên................ "Gần làng Manchester thuộc tỉnh hạt Ontario, tiểu bang Nửu Ước, có một ngọn đồi khá lớn, cao hơn tất cả các đồi khác quanh vùng. Bên sườn đồi phía tây, cách đỉnh không xa, có một tảng đá rất lớn, dưới tảng đá có một cái hộp cũng bằng đá, trong hộp này chứa đựng các bảng khắc. Tảng đá này dày và tròn, ở giữa gồ lên, nhưng cạnh mép mỏng dần đi cho nên phần giữa lộ lên khỏi mặt đất, trông thấy ngay, còn chung quanh đều bị đất phủ lấp. "Khi tôi bới hết đất chung quanh tảng đá lên, tôi tìm được một cây đòn bẩy, rồi kê vào dưới cạnh tảng đá và bẩy nó lên không mấy khó khăn. Nhìn vào bên trong, quả nhiên tôi thấy có nhiều bảng khắc, hai viên đá Urim và Thummim với tấm giăp che ngực đúng như lời mách bảo của vị thiên sứ. Hộp đựng các vật này được làm bằng những phiến đá ghép vào nhau bằng một loại xi-măng nào dó. Ðáy hộp là hai phiến đá đặt nằm ngang, và trên đó những bản khắc được xếp chung với các món khác. "Tôi định lấy các vật ấy ra, nhưng bị vị thiên sứ nghiêm cấm, và lại được nhắc rằng, chưa phải lúc lấy các vật ấy ra mà phải đợi đến bốn năm sau, tuy nhiên ông bảo tôi rằng, đúng một năm sau kể từ hôm nay, tôi phải trở lại chốn này và sẽ gặp lại ông tại đây, và tôi phải tiếp tục làm như vậy cho đến ngày tôi được phép lấy các bảng khắc ra. "Theo đó, như tôi đã được dặn bảo, cứ mỗi độ cuối năm tôi lại tìm tới chốn ấy, và lần nào cũng gặp vị thiên sứ. Mỗi lần hội kiến như vậy tôi lại nhận được những lời chỉ dẩn và những tin tức liên quan tới những gì Chúa sắp làm. Thêm vào đó tôi còn biết được những phương cách và thể thức mà vương quốc của Ngài sẽ được điều hành trong những ngày sau cùng. "Sau cùng, đến kỳ hạn đi lấy các bảng khắc, hai viên đá Urim và Thummim cùng tấm giáp che ngực, ngày 22 tháng 9 năm 1827, theo như thường lệ của mỗi năm, tôi đi đến nơi chôn dấu những vật ấy, và chính vị thiên sứ đó đã trao những báu vật linh thiêng này cho tôi, ông căn dặn tôi phải chịu trách nhiệm về những vật này,.... cố gắng giữ gìn cẩn thận cho đến ngày ông đến lấy lại... ".... Nhờ sự thông sáng của Thượng Ðế nên những báu vật ấy đều được bảo toàn trong tay tôi cho đến ngày tôi hoàn tất những gì đòi hỏi ở nơi tôi. Theo như đã dự định, khi vị thiên sứ đến lấy, tôi giao hoàn cho ông, và ông vẫn giữ chúng cho đến ngày hôm nay, tức là ngày 2 tháng 5 năm 1838."
(hết trích)

Như đã diển tả ở phần trên, hai viên đá Urim và Thummim được gắn lên hai cánh cung bằng bạc đi kèm với miếng giáp che ngực (breastplate : một miếng yếm làm bằng vải thêu, mặc trước ngực thầy cả, có gắn 12 viên ngọc tượng trưng cho 12 chi tộc Do Thái). Theo suy đoán, thiết nghĩ hai viên đá này có thể ví như hai cục "Chip" điện tử mà khoa học ngày nay thường dùng, nó có chức năng chuyển những tần số tư tưởng của nảo bộ con người lên tần số cao hơn để rung cảm với thế giới thần linh, tín hiệu được phát ra qua hai mút cánh cung bằng bạc (antenne), viên Urim có thể là máy phát và viên Thummim có thể là máy nhận. Như vậy những huấn thị được hai viên đá này chuyển và nhận để cho thầy cả có thể hiểu được ý của thần linh nói chung và của Giavê nói riêng. Thời đại bây giờ, có những máy "polygraph" dành cho công chúng chơi có thể phát hiện người ta nói thật hay nói láo khi đặt tay lên một cái khung, câu hỏi được đưa ra, và khi người đó trả lời thì đèn sẽ chớp lên, màu đỏ cho thấy người đó nói láo và màu xanh là nói đúng. Việc xữ dụng hai viên đá Urim và Thummim cũng chứng tỏ rằng Giavê không phải là thần thông lắm vì không có khả năng trực tiếp chuyển tư tưởng của mình vào nảo bộ của con người mà phải dùng đến phương tiện máy móc.

Ông Joseph Smith đã mặc chiếc yếm Breastplate và mang cánh cung có gắn hai viên đá Urim và Thummim để đọc được các tờ kim khí vàng dát mõng có ghi chữ lạ và dịch ra Anh Văn





Định nghĩa lời Chúa (Trích Kinh Thánh Công Giáo):
ReplyDeleteThuở xưa, lời Chúa phan dạy đã tạo thành một dân tộc được tuyển chọn để nghe và giữ lời Thiên Chúa. Lời ấy đã được lưu giữ trong giáo huấn, đời sống và phụng tự của Dân Thiên Chúa trong thời Cựu Ứơc và đã được chép thành Sách Thánh, tức là sách Cựu Ứơc.
Còn Lời Thiên Chúa đã phán qua Thánh Tử Giê-Su đã được truyền lại cho chúng ta nhờ sứ vụ của các Tông Đồ: Hoặc qua lời giảng dạy, gương lành và các thể chế, các ngài đã truyền lại những gì đã nhận lãnh từ miệng Chúa Ki-tô, khi chung sống với Người và thấy Người hành động, hoặc đã học biết được nhờ Chúa Thánh Thần soi sáng; một phần do chính các ngài và những người phụ tá các ngài đã viết lại Tin Mừng cứu rỗi dưới sự linh hứng của cùng một Chúa Thánh Thần (MK7). Đó là sách Tân Ứơc.