Monday, 2 January 2017

Cựu Ước không phận biệt được Thiên Chúa với Thiên Sứ.

Cựu Ước không phân biệt được Thiên Chúa với Thiên Sứ.
Bởi lẽ Thánh Kinh Tân Ước do Đức Giêsu Kitô rao giảng đã khẳng định rằng "Thiên Chúa chưa bao giờ có ai thấy cả" (Gioan 1:18), vì thế có thể những vị thần mà Abraham, Jacob và Môisen đã gặp và quen gọi họ là Jehovah (Giavê), hoặc Elohim (Thiên Chúa), là những Thiên Sứ do Thiên Chúa Thật (The True God) sai đi từ những hành tinh khác xuống trái đất, họ có thể xác giống loài người của trái đất và cách hành động của các thiên sứ này giống như loài người chúng ta, và điều này đã làm cho Môisen lầm lẫn họ là Thiên Chúa Toàn Năng có hình dạng và cá tính hỉ nộ ái ố như loài người chúng ta. Abraham đã gặp 3 thiên sứ và đã gọi họ là Chúa (Lord - Ngài) : " Yavê đã hiện ra với ông nơi Cây Sồi Mamrê. Abraham ngồi nơi cửa lều vào lúc nóng nhất ban ngày. Ông ngước mắt lên, thì này: có ba người đứng bên ông. Vừa thấy, ông liền từ cửa lều chạy ra đón tiếp họ. Ông vái sâu sát đất, và nói: "Thưa Ngài, nếu tôi được nghĩa trước mặt Ngài xin Ngài đừng rời xa tôi tớ của Ngài để người nhà đem lại chút nước, các Ngài rửa chân, đoạn ngã mình bóng cây, để tôi đi kiếm miếng bánh: hầu các Ngài được chắc dạ trước khi rời bước, bởi chưng các Ngài đã dọc đường ngang qua nơi tôi tớ của các Ngài". Họ mới nói: "Cứ làm như ông nói". (Sáng Thế Ký 18:1-5). Trong đoạn này Môisen (người viết ra sách Sáng thế Ký) đã gọi các thiên sứ này bằng chữ "Giavê", mà chữ này thì các giáo hội Thiên Chúa Giáo ngày nay đều thừa nhận đó là tên của Đức Chúa Trời, Đấng Thiên Chúa Toàn Năng. Vậy đấng mà Môisen gọi là Giavê là những vị có thân xác và ăn uống cùng trò chuyện với Abraham, vị này quả thật không phải là vị Thiên Chúa VÔ HÌNH mà Chúa Giêsu xưng tụng.
Ý niệm về Đấng Toàn Năng tạo dựng vũ trụ và điều hành mọi sự trong cõi vô hình và hữu hình thì hẳn mọi người hữu thần đều hiểu được Ngài là Đấng vô biên, vô hình, nhưng khi nói về thiên sứ hay thiên thần thì loài người sẽ hình dung họ như thế nào ?
Trong Sách Sáng Thế Ký có đoạn viết rằng: Vậy khi loài người bắt đầu thêm đông trên mặt đất, và sinh ra những con gái, thì các con trai Thiên Chúa thấy con gái loài người xinh đẹp; những cô họ ưng ý thì họ lấy làm vợ.... khi các con trai Thiên Chúa đi lại với con gái loài người, và các cô này sinh cho họ những người con. ... Có những người khổng lồ trên mặt đất vào thời bấy giờ và cả sau đó nữa, đó là những anh hùng thuở xưa, những người có tên tuổi. (Sáng Thế 6:1-4)
Các con trai của Thiên Chúa (the sons of God) chính là những Thiên Thần (hay còn gọi là thiên sứ) đã từ trời đến trái đất để làm nhiệm vụ. Họ có thể xác cho nên đã ăn nằm với gái của trần gian và đẻ ra con. Có những thiên thần trung thành tuân phục lệnh của Thiên Chúa, nhưng cũng có những thiên thần vô kỷ luật gây nhiều xáo trộn và tội ác khiến Thiên Chúa bị mang tiếng xấu.
Thánh Kinh Cựu Ước không gọi ai khác bằng tên "Con Trai của Thiên Chúa" ngoại trừ các Thiên Sứ, nhưng trong Tân Ước thì các tông đồ đã gọi Chúa Giêsu là "Con của Thiên Chúa" dù rằng Ngài luôn công khai tuyên xưng mình là con của loài người (son of man)
Người đời lầm lẫn Thiên Chúa với Thiên sứ như vậy cũng đúng thôi, bởi vì chính các Thiên Sứ cũng tự xưng mình là Thiên Chúa khi nói với Abraham câu: Giavê phán với Abraham: "Tai sao Sara lai cười, tự nghĩ: Hẳn tôi không còn sinh nở được ư? khi đã già thế này? Thì nào có gì quá khó đối với Yavê. Ðến kỳ hẹn Ta sẽ trở lại đây với ngươi (thì mãn nguyệt khai hoa rồi), Sara sẽ có con trai". (Gen 18:13-14).


Abraham tiếp đón 3 thiên sứ và gọi họ là Thiên Chúa
Jacob đã vật lộn với một người (Thiên Sứ) đến nổi trẹo xương hông nhưng đã tuyên xưng đó là Thiên Chúa. Rõ ràng người này chỉ là một người ngoài hành tinh có thân xác như người phàm và đã vật lộn với Jacob suốt đêm bất phân thắng bại, nhưng khi mặt trời sắp ló dạng thì người này bảo Jacob phải thả người ra (phải chăng vì không chịu nổi ánh sáng chói chang của mặt trời ?) như kể trong đoạn Khởi Nguyên 32: 23-33 sau đây: "Ðêm ấy Yacob chỗi dậy, đem vợ và hai tỳ nữ và mười một con, ông lội qua Yabboq. Ông đem họ đi và cho họ lội qua khe, ông cũng đem qua những gì ông có. Rồi Yacob đã ở lại một mình. Và có người đã đấu vật với ông mãi cho đến hừng đông đã rạng. Thấy mình không thắng nổi bên kia, thì bên này đạp cho một cái vào hông, và Yacob bị trẹo hông trong khi đấu vật với Người. Người mới nói: "Buông ta ra vì hừng đông đã rạng". Nhưng ông nói: "Tôi sẽ không buông Người ra, trừ phi là Người chúc lành cho tôi". Người hỏi ông: "Tên ngươi là gì?" Ông đáp: "Yacob" Người bảo: "Người ta sẽ không còn gọi tên ngươi là Yacob, nhưng là Israel. Vì ngươi đã đấu với Thiên Chúa cũng như với người ta, và ngươi đã thắng thế". Yacob lên tiếng hỏi và nói: "Xin tỏ cho tôi biết danh Người". Người đáp: Ngươi hỏi danh Ta làm gì? " Và Người đã chúc lành cho ông ở đó. Yacob gọi tên chỗ ấy là Pơnuel. Vì, ông nói: " Tôi đã nhìn thấy Thiên Chúa, diện đối diện, mà mạng tôi vẫn được an toàn". Mặt trời đã rạng tỏ khi ông đi qua Pơnuel, và ông đi khập khễnh bên hông. Bởi thế con cái Israel không ăn gân háng bên hông thú vật cho đến ngày nay, vì Yacob đã bị đập vào hông nơi gân háng." .
Cần chú ý ở câu mà Thiên sứ nói với Jacob: "Vì người đã đấu với Thiên Chúa cũng như với người ta (for you have struggled with God and with men …)" Thật khó hiểu, Jacob chỉ đấu với 1 thiên sứ nhưng lại được cho là đấu với Thiên Chúa và đấu với nhiều người !! Có thể nghĩ rằng Jacob trước đó đã vật lộn với nhiều người và đã thắng họ cho nên ông được xem là vô địch đô vật, vì thế khi gặp Thiên Sứ ông mới mạnh dạn thách đấu với Ngài. Nhưng cũng có thể nói cách khác rằng, Thiên Sứ này tuy chỉ có thể xác của một người nhưng linh khí của ngài là sự hiệp thông với nhiều thiên sứ khác cho nên mới tự cho mình là "men" (nhiều người). Đây cũng là cách giải thích về Đức Giavê khi Ngài nói "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta". Chúng ta là nhiều đấng chứ không chỉ một. Vấn đề này sẽ được bàn luận nhiều hơn ở phần dưới.
Jacob vật lộn với thiên sứ nhưng ông lại gọi đó là Thiên Chúa
Rõ ràng là người xưa, kể cả Môisen, Abraham và Jacob đã không phân biệt ai là Thiên Chúa Toàn Năng Vô Biên Vô Hình và ai là Thiên Sứ, ai là "những con trai của Trời" có xác thịt xuống trần gian để tiếp xúc với loài người và ai là thần linh. Họ gọi lẫn lộn Đấng Thiên Chúa vô hình và những vị có thân xác cùng một tên là Thiên Chúa, như thế là sai với giáo lý Công Giáo hiện nay, vì theo Tân Ước, đấng Thiên Chúa mà loài người tôn thờ là Thần Khí linh thiêng (Gioan 4:24) không có thể xác và không thể lấy gổ đá để tạc tượng của Ngài.
Trong chuơng 17 câu 1 của Sáng Thế Ký, Đấng lần đầu tiên hiện ra gặp Abraham cũng tự xưng mình là Thiên Chúa Toàn Năng : "Khi Abram được chín mươi tuổi, thì Yavê đã hiện ra cho ông và phán với ông: "Ta là El-Shadday, đấng Thiên Chúa Toàn Năng, hãy bước đi trước mặt Ta và ở cho trọn lành." (When Abram was ninety-nine years old, the LORD appeared to him and said, “I am El-Shaddai—‘God Almighty.’ Serve me faithfully and live a blameless life.) (Genesis 17:1), vì vậy qua chương 18, ba vị Thiên Sứ mà Abraham gọi là Lord cũng là vị Thiên Chúa Toàn Năng như đã tự tuyên bố ở chương trước và Abraham đã cung kính và van xin các vị này như thể đang van xin với Đấng Thiên Chúa GOD vậy.
Cần chú ý rằng chữ Lord trong Kinh Điển được dùng thiếu minh bạch cho nên người xưa, khi diển giải Kinh Thánh, đã gán chữ Lord cho cả Thiên Chúa lẫn Thiên Sứ hoặc gì khác nữa tùy theo ý niệm riêng của họ mà không suy ngẫm về bản chất của các vị khác nhau như thế nào. Chẳng hạn trong Thánh Vịnh 110, câu 1 viết rằng The LORD said to my Lord, "Sit at My right hand, Till I make Your enemies Your footstool." [kinh thánh Việt ngữ dịch thoát ra thành: " Sấm ngôn của Đức Chúa Trời ngỏ cùng Chúa Thượng tôi: Bên hữu cha đây con lên ngự trị, để rồi bao địch thù cha sẽ đặt làm bệ dưới chân con"], một chữ LORD (viết hoa) dành cho Đức Chúa Cha, và chữ Lord kia (viết thường) dành cho Chúa Con.
Cũng vì sự xài chung chữ Lord (Ngài) để gọi Thiên Sứ trong nhiều trường hợp khác nhau cho nên người diển dịch Thánh Kinh dễ bị lầm lẫn.
Theo Kinh Tân Ước thì Đức Chúa Trời (Thiên Chúa Thật = The True God) không ai có thể nhìn thấy Ngài bằng mắt thịt ( Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả; - Gioan 1:18)
Sự lẫn lộn cho rằng các thiên sứ (hay người ngoài không gian) là Đúc Chúa Trời được hiểu là: người xưa khi nhìn thấy một hiện tượng phi phàm thì cho là phép tắc và họ quan niệm chỉ có bậc thần thánh, hay đấng Thiên Chúa mới có thể làm được. Do đó khi đấng Yaveh hoặc các thiên sứ hiện ra cùng Môisen hay các tiên tri xưa, thi triển những điều phi phàm quá sức tưởng tượng của họ thì các ông liền gán cho các vì này đanh hiệu là "Thiên Chúa", là Thần.
Nhu Thánh Kinh diễn tả thì các đấng đó chỉ là các Thiên Sứ hữu hình (các con trai của Thiên Chúa) mà con người có thể nhìn thấy hoặc nghe được. Họ không phải là đấng Thiên Chúa Toàn Năng Vô Hình như Kinh Tân Ước khẳng định.
Suy ra, những Thiên sứ này có thể là một giống người đã đạt đến trình độ thông minh rất cao, não bộ của họ có thể dễ dàng hiệp thông tư tưởng cùng đấng Thiên Chúa Toàn Năng vô hình (Đức Chúa Trời) để thờ phượng Ngài và tiếp tay Ngài khai hóa những tạo sinh khác của Ngài đang còn nằm trong vòng ngu muội ở khắp nơi trong vũ trụ.
Đấng Thiên Chúa trong Kinh Cựu Ước được viết khởi đầu bằng chữ El. Chẳng hạn:
El-Shaddai = Thiên Chúa - Toàn Năng.
El-bethel = Thiên Chúa - nhà (nhà của Chúa).
Chữ El này là viết tắt của chữ Elohim, và người xưa vì quá kính sợ Ngài cho nên không dám thốt lên toàn chữ mà chỉ nói tắt là El thôi. Vậy, thật ra Elohim có nghĩa là gì ?? Xin thưa chữ này có nghĩa rất đơn giản là NHỮNG VỊ ĐẾN TỪ TRỜI. Đây là một danh từ số nhiều khiến người ta thắc mắc tại sao Đức Chúa Trời lại là số nhiều ? "Một người" đến từ trời thì phải gọi là ELOHA, nhưng người ta chỉ nghe nói đến Elohim mà thôi.
Nếu đọc sách Sáng Thế (Khởi Nguyên - Genesis) một cách kỹ lưỡng thì chúng ta nhận thấy có câu:
- Then God said, "Let Us make man in Our image, according to Our likeness; (Gen 1:26). Dịch ra tiếng Việt là: "Thiên Chúa phán: "Chúng ta hãy làm ra con người theo hình ảnh chúng ta, giống như chúng ta"
- Then the LORD God said, "Behold, the man has become like one of Us, to know good and evil. (Gen 3:22) - Dịch ra tiếng Việt là : " ĐỨC CHÚA là Thiên Chúa nói: "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta, biết điều thiện điều ác."
Tại sao lại viết là CHÚNG TA ? Tại vì họ là một nhóm "con trai của Thiên Chúa Toàn Năng", là "những người từ trời xuống" (Elohim). Cũng vì thế mà một lượt 3 thiên sứ đã đến với Abraham hoặc 1 người đã hiện ra để vật lộn với Jacob. Nhưng đối với con người thời đó, bất luận là nhiều hay ít, tất cả các vị đó đều là "các con trai của Thiên Chúa Thật" cho nên đều có thể được gọi là ELOHIM (những vị từ trời đến).
Câu : "Này con người đã trở thành như một kẻ trong chúng ta " sau khi ăn được Trái Biết Lành Biết Dữ (có thể hiểu đó là "trái hiệp thông trí tuệ của Thiên Chúa" để trở nên khôn ngoan). Vậy thì ngụ ý rằng: con người nếu có được khả năng thông hiệp trí tuệ với Thiên Chúa thì có thể trở thành một Thiên Chúa (một kẻ như "chúng ta"). Ngoài ra trước khi ăn trái cấm thì hai ông bà chưa phải là những người giống Thiên Chúa, chỉ sau khi ăn xong thì mới giống mà thôi. Vậy phải chăng Trái Cấm là một kích thích tố kỳ diệu khiến não bộ của con người phá vỡ mọi ranh giới để hòa nhập được với thần linh của Thiên Chúa ?? Nhưng xem ra các thiên sứ không mấy tin tưởng vào sự trưởng thành của Adam và Eva, hai người này có thể lạm dụng quyền năng của Thiên Chúa để làm chuyện không hợp lý cho nên các vị "chúng ta" đó đã đuổi họ ra khỏi vườn Eden để họ không ăn được trái Trường Sinh ở trong vườn để sống mãi và làm bậy.
Dân thời cổ xưa không cần phân biệt các vị thần làm gì. Vị nào giúp được cho họ việc gì thì họ thờ. Dân Do Thái thì thờ thần Giavê quyền uy nhiều phép tắc và thần Giavê tự xưng là Chúa ghen tương, bởi vì chung quanh còn có những vị thần khác chẳng hạn thần Baal mà các dân tộc khác đang thờ, cũng phép tắc như ai khiến một thời tiên tri Elia thách đấu và đã thắng vì thần Baal không thể cho lửa từ trời xuống thiêu của lễ của họ trong khi thần Giavê thì xẹt lửa từ trời xuống thiêu của lễ của Êlia dù ông đã cho tưới nước ướt nhẹp để chứng minh thần Giavê của ông nhiều uy lực. Và khi đã thắng cuộc, ông Êlia cho sát hại hết phe thờ thần Baal. (1 Cac Vua 18:16-40). Còn nữa, Ông Jacob, cháu nội của Abraham, làm rể mất 20 năm cho ông cậu của mình tên Laban ở xứ Syria để cưới hai cô em họ Leah và Rachel, nhưng gia đình của Laban lại không thờ thần Giavê mà lại thờ thần khác, và khi Jacob mang vợ con trở về xứ của mình thì cô vợ Rachel lại ăn ccáp tượng thần của bố mình mang theo khiến ông này phải rượt theo muốn lấy lại nhưng cô ả đã dấu kín không trả lại. (Sáng Thế 31:22-42). Những chuyện ở trên cho thấy thời đó có nhiều vị thần (hay thiên sứ) để dân thờ lạy, mỗi vị có uy lực riêng của mình và các kẻ thờ lạy họ lại đi giết hại lẫn nhau. Họ chẳng biết ai là đấng Thiên Chúa Toàn Năng mà chỉ biết ai đang giúp đỡ họ nhiều nhất mà thôi. Đối với dân Do Thái cũng vậy, họ thờ lạy các thiên sứ và cho đó là cùng một nguồn gốc quyền lực của đấng Giavê chứ không phân biệt rõ ràng ai ra ai cả. Vị mà dân Do Thái thờ được biết đến là ELOHIM tức NHỮNG VỊ TỪ TRỜI ĐẾN..
Thỉnh thoảng cũng có người hỏi tên của Elohim là gì, nhưng họ không được trả lời thỏa đáng. Chẳng hạn khi Moise hỏi đấng hiện ra với mình trong bụi gai là ai thì Ngài trả lời một cách chân thật : TA LÀ TA (I am who I am). Đây không phải là một cái tên mà chỉ là diễn tả thực trạng của vị đó. Tại sao Ngài không nói tên thật của Ngài ?? Xin thưa là Ngài không có tên gọi theo tiếng của loài người mà chỉ có tên theo kiểu nào đó ở ngoài vũ trụ. Có thể diễn tả nó như một làn sóng tư tưởng hay một màu sắc của ánh sáng hay là một mã số chỉ được cảm nhận bởi trí tuệ chứ không phải là một âm thanh hay tiếng nói được nhận biết bằng thính giác.
Có quý vị nào đã từng xem phim Splash chưa ? Trong phim này một em "người cá" (mermaid) xinh đẹp (do nữ diễn viên Daryl Hannah thủ vai) bỏ cái đuôi cá của mình để đi du lịch trên đất liền. Cô nàng quá thông minh nên chỉ sau 2 tiếng xem Tivi ở chốn công cọng, cô nàng đã nói được tiếng người. Cô gặp được một chàng trai (do Tom Hanks thủ vai) và được hỏi: "Em tên là gì ?" Cô trả lời: "Em tên là Shhrrrrieeeeeekk" và khi cô nói tên của mình qua tần số siêu âm thì đã khiến cho các màn ảnh Tivi trong tiệm vở tung. Đó là tiếng rít của cô người cá dưới lòng biển để nhận biết nhau với đồng loại. Cũng thế, đối với người đã đạt đến độ thông minh tuyệt đỉnh và thần giao cách cảm, họ không cần phải có tên gọi như loài người cho nên khi Môsê hỏi tên của vị thần hiện ra, thì chỉ được Ngài trả lời gọn lỏn: "Ta là Ta" và dặn Môsê hãy xem đó như là tên của Ngài. (Xuất Hành 3:13-14). Các nhà thần học diễn dịch cái tên TA LÀ TA có nghĩa "Ta là Đấng Tự Hữu", nhưng cách diễn dịch này quá chủ quan và sai với nguyên nghĩa.
Theo cổ ngữ, câu nói "TaLàTa" được phát âm là YAWEH, mà về sau có người lại nói trại ra thành Jehovah. Nếu có một người ngoại quốc nào hỏi tên của bạn là gì, bạn có thể đùa nghịch trả lời anh ta rằng "Ta là Ta" và từ đó bạn sẽ được người đó chào bạn bằng câu "Good morning Mister TALATA" và sẽ có một ông thầy bói nào đó phiên dịch ra cho ông ngoại quốc đó ý nghĩa của tên bạn rằng "Anh đó là Đấng Tự Hữu đó" và người ngoại quốc đó tự hỏi "phải chăng anh ta là đấng Giavê ?"
Đây không phải là lần duy nhất "những người đến từ trời" (Elohim) không trả lời được về tên của mình, bởi vì khi Jacob vật lộn với Thiên sứ và hỏi tên của vị thiên sứ này, thì ngài cũng ấp úng không trả lời được và hỏi ngược lại : " Ngươi hỏi danh ta làm gì ? "
Để kết luận, dựa theo Kinh Thánh, chúng ta có đủ lý do để tin rằng người xưa chưa từng biết được vị Thiên Chúa Thật, đấng vô hình, đấng mà Chúa Giêsu gọi là Abba là ai mà chỉ biết các vị thiên sứ đại diện cho Ngài mà thôi và gọi họ bằng cùng một tên giống như tên của Thiên Chúa. Có thể nguyên do của sự lầm lẫn này là do Môisen đã viết chữ Elohim mà không giải thích phân định ý nghĩa trung thực của chữ này là MỘT đấng hay là NHIỀU đấng từ Trời xuống. Phần lớn trong toàn bộ Kinh Thánh đều cho rằng đó là một đấng Giavê, nhưng trong trong sách Sáng Thế Ký lại hé lộ cho chúng ta thấy rằng Thiên Chúa là nhiều vị là "chúng ta" và rất nhiều thiên sứ cũng tự xưng mình là Thiên Chúa.
Người xưa đã nhìn thấy thiên sứ và đã gọi họ là Đức Chúa Trời thì điều đó chẳng có hại gì, chỉ là chưa đủ phân minh mà thôi.
Nhưng ngày nay, nhờ có Chúa Giêsu mà chúng ta hiểu rõ hơn về Đấng Thiên Chúa vô hình, đấng Cha chung, nhân hậu với mọi loài chứ không thiên vị chủ trương tiêu diệt một dân này để rồi chọn một dân khác làm dân riêng cho mình. Đã là cha chung của nhân loại thì không có dân nào là dân riêng của Ngài cả !! Vị thần Giavê đã chọn dân Do Thái làm dân riêng của Ngài e rằng chưa phải là đấng tạo hóa dựng nên loài người vì trong sách Ezekiel đã ghi rằng Ngài chỉ đi ngang qua trái đất và bất chợt nhìn thấy dân Do Thái như một bé gái sơ sinh trần truồng được "ai đó" sinh ra và bỏ rơi trong máu me, và ngài Giavê đã đoái thương, chăm sóc và bảo vệ nó cho đến khi nó trưởng thành và chọn nó là của riêng cho mình. (Ezekiel 16:4-8) Thiên Chúa Thật phải là đấng cha chung của nhân loại và sẽ ban bố tình thương và lòng tha thứ của Ngài lên hết mọi người như Chúa Giêsu đã dạy : "Còn Thầy, Thầy bảo anh em: hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ ngược đãi anh em. Như vậy, anh em mới được trở nên con cái của Cha anh em, Đấng ngự trên trời, vì Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính. "(Mt 5:44-45)
Sở dĩ trong Cựu Ước các Thiên sứ có thể tự xưng là Thiên Chúa là bởi họ đang hiệp thông tư tưởng với Đấng Toàn Năng và lãnh nhận sự ủy thác từ Ngài. Cũng như Chúa Giêsu, tuy Ngài mang xác thịt loài người, nhưng Ngài luôn hiệp thông với Đức Chúa Cha cho nên Ngài đã có khả năng làm nhiều phép lạ và cũng đã tuyên xưng mình với Chúa Cha là MỘT, Vì thế chúng ta gọi Chúa Giêsu là Thiên Chúa cũng rất chính xác, nhất là kể từ khi Ngài sống lại từ cỏi chết thì mọi uy quyền trên Trời dưới Đất đều được Chúa Cha trao trọn cho Ngài. (Mt 28:18) Riêng những thiên sứ xấu đã lạm dùng quyền năng Thiên Chúa để phát huy những hỉ nộ bất thường của mình thì chúng ta có thể xem đó là cá tính "người" của họ chứ không phải do Thiên Chúa truyền đạt. Tuy Chúa Giêsu tự xưng mình là "con của loài người" (son of man) nhưng Ngài luôn vâng lời và hiệp thông với Đấng Toàn Năng nên Ngài đã được Cha mình sủng ái và ban hết quyền lực cho Ngài. Vì thế, dù Ngài là con người nhưng nhân loại đã nhận ra Ngài chính là Thiên Chúa. Tuy chính Ngài cũng đã xác nhận rằng " Chúa Cha cao trọng hơn Thầy" (Gioan14:28), nhưng khi đã hiệp thông với Cha của Ngài thì " Ta và Chúa Cha là Một " (Gioan 10:30). Giống như giọt nước biển khi bị tách rời chỉ là nhỏ bé so với biển cả, nhưng khi đã hòa mình vào lòng biển cả thì giọt nước chính là biển cả vậy.

JB Trường Sơn

Thursday, 9 May 2013

Thánh Kinh Cựu Ước chỉ là giai đoạn khai quang

Thánh Kinh Cựu Ước chỉ là giai đoạn khai quang

JB Trường Sơn
- Apr 11, 2010 
Tôi đã từng bỏ nhiều thì giờ để nghiên cứu Cựu Ước, đã từng bức tóc giựt râu vì những điều sai trái, hàm hồ hoặc mê tín trong đó. Nhưng sau khi đã chán chường với những ngang trái của nó, tôi bắt đầu tỉnh trí lại và tự cười chế riểu mình vì đã quá quan trọng hóa một tác phẩm của quá khứ xa xưa, đã cho nó một giá trị thực tiển có tính trường cữu. Tại sao tôi đã quan trọng hóa nó đến như vậy ? Ấy là vì tôi đã được "nhồi sọ" rằng Thánh Kinh Cựu Ước là "lời của Thiên Chúa". Có phải vì ngu muội hay là vì âm mưu mà người ta hiện nay vẫn quả quyết rằng Thánh Kinh Cựu Ước chính là lời của Thiên Chúa ? Thật ra Thánh Kinh Cựu Ước chỉ là một sách dạy dổ và học hỏi của người xưa vào cái thời mà con người chưa biết trời trăng như thế nào, cái thời mà sự tưởng tượng đã khiến cho con người đâm ra sợ hãi trước hiện tượng thiên nhiên hoặc huyền bí khiến họ phải chấp nhận mọi điều phi lý mà chẳng dám đặt dấu hỏi vì không thể nào trả lời được, cai thời mà tiên tri Ezekiel khi thấy phi thuyền không gian của người ngoại tinh cầu xuất hiện thì lạy sói trán và cho đó là thần linh, là Thiên Chúa..
Đối với thời đại Kitô Giáo hiện nay, thiết tưởng giá trị của Cựu Ước đã không còn cao đẹp như thời cổ xưa mà nó chỉ còn giá trị di sản văn hóa mà thôi, vì tín lý trong đó đã biến thành thô thiển như chiếc xe thổ mộ (xe có bánh gổ do trâu bò kéo), chỉ có thể giúp cho con người sống vâng phục một kiếp nô lệ sợ hãi trước cường quyền chứ không giải phóng họ bằng tình thương và giao cảm.
Giờ này mà còn nghiên cứu Cựu Ước để tìm chân lý thì hơi buồn cười vì chẳng ai còn đi nghiên cứu bánh xe thổ mộ để tìm khuyết điểm trong sự tròn méo của nó, cũng giống như người ta không còn phê bình cách thức thiếu vệ sinh của cha ông Việt-Nam chúng ta cách đây 1 thế kỷ khi họ đi cầu xong phải gạt đít bằng ngón tay cho sạch sẽ. Ở thời đại mà ngành thiên văn đã nhìn thấy những tinh tú xa hàng mấy ngàn năm ánh sáng mà còn bàn cải Trái đất (à, phải nói là Mặt Đất) là một mặt bằng phẳng nằm giữa hai khối nước như Sách Khải Nguyên (Genesis) đã trình bày thì thật là trò chơi để tiêu pha thì giờ của trẻ con.
Vậy hảy bỏ qua chuyện nghiên cứu Cựu Ước như là sách truy tìm chân lý mà chỉ nên nghiên cứu nó dưới con mắt tìm hiểu văn hóa và lịch sử mà thôi. Đừng tranh luận gì về nó cho nhọc sức dở hơi. Nếu trong hiện tại còn có những người bám víu vào Cựu Ước để cho rằng đó là chân lý thì điều này đã bị Chúa Giêsu phê phán rồi.
Những người tin mù quáng vào Cựu Ước và tuyên truyền những điều thô thiển trong đó thật đã xem thường công lao giảng dạy của Chúa Giêsu, vì mục đích của Chúa Giêsu khi đến trần gian này, ngoài việc chịu đóng đinh trên khổ giá để cứu chuộc nhân loại, còn là rao giảng một giáo lý mới cho muôn dân. Ngài phải mất ba năm đi rao giảng, tuyển mộ môn đồ và truyền lịnh cho họ phải : “.. dạy bảo muôn dân tuân giữ mọi điều Thầy đã truyền cho anh em..". (Matthew 28:20). Rõ ràng Ngài KHÔNG KHUYẾN KHÍCH họ loan truyền giáo lý cũ trong Cựu Ước với những giết chóc tru diệt, mắt đền mắt răng đền răng, mà chỉ dạy dổ muôn dân tuân giữ "mọi điều Thầy đã truyền cho anh em" thôi, đó là những giới răn mới tràn đầy nhân bản, tôn trọng mạng sống con người, khoan dung và tha thứ, hoàn toàn khác hẳn những hung bạo của đấng Giavê (Jehovah) trong Cựu Ước . Chúa Giêsu cũng đã răn dạy rằng: Không nên pha trộn giáo lý mới của Ngài với giáo lý cũ vì hai bên sẽ chọi nhau. . Đức Giê-su còn kể cho họ nghe dụ ngôn này: "Chẳng ai xé áo mới lấy vải vá áo cũ, vì như vậy, không những họ xé áo mới, mà miếng vải áo mới cũng không ăn với áo cũ. 37 "Không ai đổ rượu mới vào bầu da cũ, vì như vậy, rượu mới sẽ làm nứt bầu, sẽ chảy ra và bầu cũng hư. 38 Nhưng rượu mới thì phải đổ vào bầu mới. (Luke 5:36-38)
Ngài nói trước rằng:... Cũng không ai uống rượu cũ mà còn thèm rượu mới. Vì người ta nói: "Rượu cũ ngon hơn" (Luke 5:39)
Câu cuối cùng này ngụ ý rằng những kẽ khen Cưụ Ước hay tốt là nhũng kẻ ngoan cố và đầy thành kiến.
Các đoạn kinh thánh nêu trên còn cho thấy sự bất tương dung giữa hai nền giáo lý cũ của Cựu Ước và mới của Tân Ước và khuyên những ai đã dùng thứ nào thì không nên dùng thứ kia vì phá hỏng đức tin. Bởi lẽ Ngài đã sai bảo các tông đồ đi rao giảng giáo lý mới của Ngài, như vậy gián tiếp Ngài đã dẹp giáo lý cũ của Cựu Ước qua một bên không dùng tới nữa để tránh sự đối chọi.
Cựu Ước chỉ là "giai đoạn khai quang" còn Tân Ước mới là một phi đạo đã được thành lập để “chiếc máy bay cứu rổi Giêsu” cất cánh đưa chúng ta lên trời, dẩn tới sự sống muôn đời. Có phi đạo tráng nhựa xây đắp tốt lành rồi thì sự khai quang đã chấm dứt, nó chỉ là ấn tượng có giá trị lịch sử mà thôi chứ không còn tác dụng trên thực tế nữa.
Cách đây 2 ngàn năm Chúa Giêsu đã bị giới luật sĩ lên án là đã dám sửa đổi Thánh Kinh Cựu Ước mà họ xem như bất khả xâm phạm, và Ngài đã trả lời rằng: "Anh em đừng tưởng Thầy đến để bãi bỏ Luật Mô-sê hoặc lời các ngôn sứ. Thầy đến không phải là để bãi bỏ, nhưng là để kiện toàn. Vì, Thầy bảo thật anh em, trước khi trời đất qua đi, thì một chấm một phết trong Lề Luật cũng sẽ không qua đi, cho đến khi mọi sự được hoàn thành.
Quả đúng như vậy, Ngài không hề sửa đổi một chấm phết nào, Ngài chỉ lập nên những luật lệ và giáo lý mới, còn luật lệ cũ thì không hề sửa đổi, vẫn để y nguyên đó, bảo tồn nó kỷ lưỡng như ở bảo tàng viện để ai muốn nghiên cứu học hỏi thì cứ làm. Bên cạnh túp lều da của Abraham, Ngài đã xây dựng một căn nhà bằng gạch đá vững chắc để bảo vệ đàn chiên cừu của Ngài khỏi sự de dọa của sói lang, con chiên nào muốn vào đó để trú ẩn thì sẽ được sống an toàn, còn con chiên nào muốn ra nằm ngủ quanh túp lều của Abraham thì vẫn được tự do đến đó nhưng phải đối diện với thử thách và nguy hiểm. Vì không đọc rõ Tân Ước, bọn phản đạo thường chỉ trích rằng Chúa Giêsu muốn loại bỏ Cựu Ước. Nhưng Ngài nói rất rõ ràng là Ngài không loại bỏ lề luật cũ của Cựu Ước mà chỉ ngăn cách và để dành nó qua một bênđể những ai muốn dùng nó thì hãy dùng, còn những ai ham chuộng sự cứu rỗi cho linh hồn để hưởng hạnh phúc nước trời thì hãy dùng lề luật mới hữu hiệu và cao siêu hơn. Ngài nói : … nhưng rượu mới thì đổ vào bầu mới, thế là giữ được cả hai (có nghĩa là bầu rượu cũ cũng sẽ được bảo toàn nếu chỉ dùng để chứa rượu cũ thôi).
 Quý vị hãy thử vào viện bảo tàng để ngắm chiếc xe đạp của thời xa xưa xem có ai đã thò tay vào để biến cải phụ tùng nào của nó không ? Không, nó vẫn được giữ nguyên vẹn như thời mới được chế tạo, bản đồ thiết kế vẫn được giữ gìn để ai có thích thì cứ sao chép về chế tạo lại một chiếc để xài cho vừa ý thích. Chiếc xe đạp Cựu Ước là một dụng cụ rất hữu dụng cho con đường làng, nhưng nó bị cấm không được đi vào xa lộ, vì ở đó dành cho những xe hơi thời đại mới chạy cao tốc sẽ khiến cho xe đạp gặp tai nạn. Vậy xe đạp chỉ nên dùng cho những nơi không có xe hơi.
Trong Cựu Ước, Đức Gia vê không bao giờ hứa ban cho con người cuộc sống vỉnh cửu mà chỉ là đất đai và vương quyền trên trần thế với cuộc sống tạm bợ mà thôi, trái lại Chúa Giêsu đã nối chúng ta được với sự sống vỉnh cửu bằng lòng Tin vào Ngài: “những ai tin vào danh Người, thì Người cho họ quyền trở nên con Thiên Chúa.” (John 1:12) .


Hủ Lô nay đã hết thời
Vào bảo tàng viện nghỉ ngơi yên hàn
Đừng làm việc thừa thải vừa mất công, vừa làm cho bạn loạn trí vì sẽ gặp phải nhiều mô tả sai lầm trong đó: Những đấng thần linh mà các tiên tri và tổ phụ trong Cựu Ước nhìn thấy được không phải là Thiên Chúa mà chỉ là những thiên sứ của Ngài mà thôi vì thánh Gioan đã khẳng định rằng: “Thiên Chúa, chưa bao giờ có ai thấy cả;” (John 1:18). Tiên tri Ezekiel đã mô tả Đức Jehovah (Gia vê) như là vị thần linh tầm thường, không phải là Đấng Tạo Hóa đã ban sự sống cho loài người mà chỉ là vị thần linh qua đường, tình cờ nhìn thấy loài người đáng thương cho nên ra tay nuôi dưởng họ: “Ngày mới sinh ra, ngươi bị quẳng ra giữa đồng vì ai cũng ghê tởm ngươi. Ta đi ngang qua chỗ ngươi và thấy ngươi giẫy giụa trong máu.” (Ezek 16:5-6). Ông cũng mô tả Đức Jehovah (Gia vê) như là một ông thần phù thủy bày vẻ cho ông hành nghề bùa ém để trừng phạt dân Israel (Ezekiel chương 4). Thật trái ngược với lời mô tả của Chúa Giêsu về Thiên Chúa, Cha của Ngài thương yêu mọi con cái dù chúng xấu và phản bội.
Kết Luận: Đọc Cựu Ước như là tài liệu trong viện bảo tàng mà thôi, vì những điều dạy trong đó có quá nhiều thiếu sót và sai lầm, riêng những điều cho rằng hay ho trong Cựu Ước cũng không thể sánh bằng lời giáo huấn của Chúa Giêsu. Đọc hết Thánh Vịnh của David cũng không thể tạo được lòng yêu mến và khâm phục Thiên Chúa cho bằng nhìn ngắm sự cấu tạo tinh vi của DNA và sự bao la huyền bí của vũ trụ khiến tâm hồn con người ngất ngây trước sự toàn năng của Ngài. Những khám phá của loài người sau này về vủ trụ đã hé lộ cho loài người biết thêm nhiều về Đấng Chủ Quản của nó, đấng này mới chính là Thiên Chúa “Thật” chứ không phải là vị thần Jehovah (Gia vê) đã được các tiên tri mô tả. Trong kinh Tin Kính của đạo Công Giáo có câu nói về Đấng này khi tuyên xưng đức tin với Đức Giêsu rằng : “Ngài là Thiên Chúa bởi Thiên Chúa, Ánh Sáng bởi ánh Sáng, Thiên Chúa Thật bởi Thiên Chúa Thật, được sinh ra mà không phải tạo thành …” . Câu này chứng tỏ Hội Thánh Công Giáo đã biết rằng có một vị Thiên Chúa giả mà một số mô tả trong Cựu Ước đã cầm nhầm, đấng đó không phải là đấng Thiên Chúa Thật mà Đức Giêsu tuyên xưng mình là con của Ngài và gọi Ngài bằng Cha (Abba). Ở đây chúng ta cũng lấy làm lạ tại sao Hội Thánh Công Giáo đã biết Cựu Ước là lầm lẫn mà vẫn ôm lấy nó khư khư và gọi đó là “lời Chúa” để kéo dài sự hoài nghi và bất phục của những người đang khao khát gia nhập vào Hội thánh của Chúa Kitô !! Có thể hiểu rằng họ là những kẻ có được rượu mới, nhưng vì đa số người dân đều thích rượu cũ cho nên họ cũng không dám từ khước bán rượu cũ cho dân vì như vậy sẽ không kiếm được nhiều lợi nhuận.
Tân Ước mới là chìa khóa của chân lý chứa đụng mọi lời giải đáp cho những ai khao khát tìm về nước Chúa.
Các bạn còn muốn đả kích Cựu Ước nữa thôi ?? Bạn có còn thấy chiếc “xe hủ lô” (xe cán đá “cổ lổ sỉ”của thời Pháp thuộc tại VN) sỉ rét vứt bỏ trên mặt phi đạo ở phi trường không ? Nếu thấy thì xin bỏ công đẩy nó qua một bên lề đường để nhường chỗ cho máy bay cất cánh, đừng mang đồ nghề ra để tháo gở mong sửa chửa và sơn phết nó làm gì !
Hiện nay có nhiều tôn giáo đang duy trì sách Cựu Ước như là lời thánh kinh bất di dịch và buộc phải vâng theo (chẳng hạn đạo Jehovah Witness tự cấm mình không được truyền máu [blood transfusion] bởi vì trong Cựu Ước cấm không được uống máu của sinh vật vì máu là mạng sống Thiên Chúa ban có khả năng xá tội (Leviticus 17:10-16)! Tuy nhiên có một thứ đạo gọi là đạo mới, đó là đạo của Đức Kitô (christianity) tức là đạo áp dụng các giáo huấn của Đức Jesus Christ, đạo này đang thi hành lời giáo huấn không được pha trộn giáo huấn cũ và mới với nhau mà chỉ rao giảng và dùng những giáo huấn mới của đấng Christ mà thôi. Những ai tự xưng mình là Kitô Hữu (christian) mà lại tôn thờ Cựu Ưóc thì hẳn đã chối bỏ tư cách tín đồ Kitô của họ. Hội thánh Công Giáo tuy cũng tự xưng là Kitô Giáo nhưng cũng mon men thèm lạt cái thứ rượu cũ của Cựu Ước. Tuy nhiên họ chỉ uống pha thêm chút đỉnh thôi, nhưng lắm khi cũng đủ làm cho nứt bầu toạc áo (chẳng hạn vụ án kết tội tử hình cho ông Galileo Galilei, bởi vì Cựu Ưóc dạy rằng mặt trời quay xung quanh quả đất chứ không phải như nhà thiên văn này chứng minh ngược lại.. vv.)
-----------